Category Archives: Binh pháp cổ đại

Các bộ binh thư cổ vẫn còn mang lại những giá trị triết học và trí tuệ của người xưa, áp dụng trong nhiều lĩnh vực cho đến hiện tại.

BINH PHÁP KHỔNG MINH: GIA CÁT LƯỢNG

    Đây là phần ĐỒ THỊ BINH ĐIỂNTIỆN NGHI THẬP LỤC SÁCH trong bộ BINH PHÁP KHỔNG MINH của Vũ hầu GIA CÁT LƯỢNG.

Gia Cát Lượng (诸葛亮) tự Khổng Minh

Gia Cát Lượng (诸葛亮) tự Khổng Minh

Gia Cát Lượng (诸葛亮 phiên âm Zhūge Liàng) tự Khổng Minh (181 – 234) hiệu là Ngọa Long tiên sinh, là nhà chính trị nhà quân sự kiệt xuất của Trung Quốc trong thời Tam Quốc ( từ năm 190 đến năm 220, sau Công Nguyên, được đánh dấu bởi sự hỗn loạn của các cuộc giao tranh giữa các phe phái trong rất nhiều khu vực của Trung Quốc và kết thúc khi nhà Tấn tiêu diệt nhà Ngô vào năm 280).

Gia Cát Lượng được “thần thánh hóa” rất nhiều trong tứ đại kiệt tác Tam quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung. Tuy nhiên về nhân cách thì ông đã trở thành tấm gương sáng chói cho muôn đời trần thế. Cái “tiên phong đạo cốt” cũng như sự “liêm khiết thanh bần” của ông đã trở thành bài học quí giá cho giới lãnh đạo từ xưa đến nay.

Gia Cát Lượng đã trở thành “vạn thế sư biểu” là bậc thầy về trí tuệ, suy đoán, dụng binh và con đường đi đến thắng lợi. Gia Cát Lượng thuộc nằm lòng binh thư nhưng ông cũng từng làm trái ngược với binh pháp, đó là phong cách dụng binh mới, tùy cơ ứng biến, không bó buộc trong khuôn mẫu. Ngoài ra ông còn là một nhà chế tạo phương tiện chiến đấu nổi tiếng, là tiền đề cho việc nghiên cứu xe gỗ, xe ngựa và các loại phương tiện khác nhau sau này.

Tiếc thay thiên mệnh nhà Hán đã hết, mặc dầu tận tâm một đời với nhà Thục Hán nhưng rồi nhà Hán cũng chuốc lấy một kết cuộc vong quốc. Để rồi Gia Cát Lượng đã thốt ra một câu bất hủ rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Cuộc đời của Gia Cát Lượng là một chuỗi dài mưu lược, trí tuệ và trung thành. Phải chăng sự thất bại của nhà Hán đã làm cho thế nhân tiếc nuối một đời cống hiến của Khổng Minh! Cũng vì thế mà tên tuổi của ông lưu truyền hậu thế. (Trích Gia Cát Lượng toàn tập).

ĐỒ THỊ BINH ĐIỂN

Khi quân đã đến gần lều trại của địch thì nên ra đi lúc trời mới sáng.

Rút quân phía trước trong vòng mười dặm, đều cho án giữ vào hai bên phải và trái (rút quân phía trước là để tránh khỏi bị đánh bất ngờ, sát quân vào hai bên phải – trái là để bảo vệ trung quân); ở các đường thấp (thấp thế, dễ bị đánh úp) cũng rút quân hết trong vòng mười dặm.

Vài dặm ngoài thì năm người hợp thành một đội (đội ngũ). Người cầm một lá cờ trắng, trèo lên cao, hướng ra phía ngoài, nhìn cho kỹ để tìm xem nơi nào nên dùng làm chổ ẩn nấp.

Người chủ tướng cầm quân nên dời chuyển tìm chổ cao và ở đằng trước.

Người thứ nhất gặp giặc thì báo ra đằng sau cho người thứ hai, người thứ ba đến gặp người chủ tướng để trình lại.

Phàm là người lính thám sát khi gặp giặc từ trăm người trở xuống thì chỉ đưa cờ lên mà ra hiệu; nếu gặp từ trăm người trở lên thì liền đưa cờ lên và la lớn…Người chủ tướng sai lính cưỡi ngựa mau chạy đi xem xét đám quân địch ấy.

TIỆN NGHI THẬP LỤC SÁCH

Thứ nhất: YÊN NƯỚC

Phép yên nước là do ở phép yên nhà. Phép yên nhà là cốt xây cái gốc.

Cái gốc mà xây được thì ắt là cái ngọn phải ngay thẳng vậy. Thế mà gốc là phải nói trước, ngọn là cái ứng hòa theo.

Cái phải nói trước hết là Trời – Đất. Cái ứng hòa theo là Vạn vật.

Về vạn vật thì không thể sinh ra nếu không có Trời, không thể lớn lên nếu không có Đất, không thể thành hình nếu không có tay người.

Lễ học ở nhà trường, nhạt bát dật (nhạc dùng tại triều đình của Vua), minh đường (cửa quan) rộng rãi hòa nhã, tôn miếu cao lớn, cốt là để lo về cái gốc của con người.

Cho nên cái gốc là phép thông thường, là quy củ chính yếu. Đục tròn không thể đục được lỗ mộng vuông, dào chì không thể chặt chém. Đó chẳng phải là việc thường dùng nên không làm được xong công việc. Chẳng phải là khí cụ thường dùng khi không thể đạt tới sự tinh xảo.

Cho nên Trời mà bất thường ắt là có nghịch khí. Đất mà thất thường ắt là có sự khô bại. Người mà bất thường ắt là có hoạn hại.

Thứ hai: ĐẠO VUA – TÔI

    Mối quan hệ giữa Vua và Tôi là do cái tượng của Trời – Đất mà hiện ra. Tượng của Trời mà sáng, ắt là đạo vua tôi được đầy đủ. Vua ban ơn xuống dưới để làm điều nhân, bề tôi thờ người trên để làm điều nghĩa.

Bề tôi mà hai lòng thì không thể thờ vua. Vua mà nghi ngờ phép tắc của bề tôi thì không thể trao trách nhiệm cho bề tôi.

Trên dưới đều mến lễ nghi, ắt là dân dễ sai khiến. Trên dưới mà hòa thuận, ăt là đạo vua tôi được đầy đủ. Vua dùng lễ nghi để sai khiến bề tôi, bề tôi đem lòng trung để thờ vua.

Vua sắp đặt nền chính trị, bề tôi lo phụng sự vua. Việc chính trị là việc chính danh, phụng sự là khuyến khích thi hành các công tác. Vua khuyến khích việc chính trị, bề thôi khuyến khích việc thờ vua, ắt là cái đạo công danh được thành tựu đối với mọi người.

Bởi thế cho nên vua quay mặt về phía Nam, hướng dương phát ra các âm thính, bề tôi quay mặt về phía Bắc, hướng âm, nhìn hình ảnh (của công việc, xem tiếp ở sau thì rõ). Âm thính vang dội ra là cái mệnh lệnh dạy xuống, hình ảnh là sự công hiệu của việc thi hành. Lệnh dạy xuống mà vửa phải thì công việc thành tựu; công việc mà thành tựu ắt là vạn vật hưởng được phước ban xuống.

Đó là lấy ba giềng (là ba mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ) và sáu phép (sáu đạo làm vua, làm tôi,làm cha, làm con, làm chồng, làm vợ) có trên, giữa và dưới. Trên hết là Vua – Tôi, ở giữa là Cha – Con, ở dưới hết là Chồng – Vợ, đều răn mình theo đạo thì phước mai sẽ đến.

Vua – tôi trên dưới lấy lễ làm gốc, Cha – con lấy ân làm thân, Chồng – vợ trên dưới lấy hòa làm vốn.

Trên không thể không ngay thẳng, dưới không thể không đứng đắn. Người chủ chốt ở bên trên không được cong vạy, lời nói của kẻ dưới không được phản nghịch.

Cho nên nhà vua chỉ nghĩ đến việc chính trị, bề tôi nghĩ đến việc phụng sự. Ấy nên vua sáng mà sửa mình ngay thẳng thì việc làm của tôi trung sẽ được thành tựu. Kẻ học trò thì mong được thầy sáng, kẻ sĩ thì mong được vua sáng.

Cho nên đặt ra toàn bộ quan chức, chia ngôi thứ tước lộc, bày ra nghi khí để xem thiên văn, lập ra chức thai phụ để phò tá. Tư không được làm loạn công, kẻ sai quấy không được xúc phạm người đoan chính, ấy là đạo trị quốc đầy đủ.

Thứ ba: XEM – NGHE.

   Phép xem xét và nghe ngóng là xem xét cái hình nhỏ, nghe ngóng cái tiếng nhỏ, hình nhỏ mà không thấy được, tiếng nhỏ mà không nghe được.

Cho nên bậc vua sáng suốt xem xét cái “nhiều nhặn” ở trong cái vật nhỏ nhặt, nghe ngóng cái “vang ầm” trong cái tiếng nhỏ nhẹ, lấy trong hòa ngoài, lấy ngoài hòa với trong.

Cho nên đạo làm chính trị cốt ở nghe ngóng nhiều, để mà lượm lặt và thu nạp lời tâu của kẻ dưới. Khi sắp đặt mưu kế mà dùng tới cả kẻ sĩ bậc thấp, ắt vạn vật sẽ giúp cho mắt thấy rõ, các âm thịnh sẽ giúp cho tai nghe rõ.

Cho nên kinh sách có nói: Thánh nhân không có tâm ý bình thường (nhất định) mà lấy tâm ý của trăm họ làm tâm ý của mình, dùng mắt của trăm họ để cho tâm xem xét, dùng miệng của trăm họ đẻ tâm nói năng, dùng tai của trăm họ để tâm nghe ngóng, lấy nhân của trăm họ để tâm yên ổn.

Cho nên nhân có tâm cũng như nước có vua. Dùng trong để hòa ngoài thì vạn vật sáng tỏ ra.

Thấy được cái hình của mặt trời mặt trăng thì không đủ để gọi là sáng mắt, nghe được tiếng sấm sét không đủ để gọi là rõ tai. Cho nên bậc vua trong loài người, lấy thấy nhiều làm sáng trí, lấy nghe nhiều làm thần. Thế mà năm âm không nghe thì không biết lấy gì mà phân biệt cung thương (năm âm: cung, thương, giác, chủy, vũ), năm sắc không thấy thì không biết lấy gì mà phân biệt đen vàng.

Bởi vì được nghe bậc vua sáng thường giống như ngày đêm. Ngày thì việc công thi hành, đêm thì việc tư phấn phát. Hoặc có điều oan ức trong tiếng kêu than mà lại không nghe được, hoặc có điều thành thực trong sự tiến cử việc lành mà lại không được tin cậy: tiếng kêu oan mà không nghe ắt là kẻ oan khuất không thể giải thoát được; tiến cử việc lành mà không thu nạp ắt là người trung thành không được tin cậy, kẻ tà sẽ dung dưỡng việc gian trá.

Cho nên Kinh Thư nói rằng: Sự xem xét của Trời là sự xem xét của dân nơi ta, sự nghe ngóng của Trời là sự nghe ngóng của dân nơi ta; đó gọi là xem xét và nghe ngóng.

Thứ tư: THU NẠP LỜI KHUYÊN.

   Phép nghe lời khuyên gọi là phép can gián để lựa chọn những mưu kế của kẻ dưới.

Cho nên vua tôi khuyên can, gặp việc bất nghĩa ắt là can ngăn, chiều theo việc tốt đẹp, cứu vớt khỏi việc hung xấu. Việc hung xấu chẳng nên chiều theo, việc tốt đẹp chăng nên chống đối. Nước nào mà chìu theo việc hung xấu, chống đối việc tốt đẹp, ắt phải gặp nguy biến.

Bậc vua trong loài người chống đối khuyên can ắt là tôi trung không dám dâng mưu kế, còn quan lại gian tà thì chuyên quyền nắm giữ tất cả giềng mối chính trị, đó là điều nguy hại của nước.

Cho nên ở nước có đạo thì nói mạnh, làm mạnh, ở nước vô đạo thì làm mạnh,nói yếu (nói lời khiêm tốn), trên chẳng có chổ nào được nghe, dưới chẳng có chổ nào được nói.

Cho nên Khổng Tử không hề xấu hổ khi học hỏi kẻ dưới. Chu Công không hề xấu hổ khi hạ mình làm việc nhỏ nhặt nên làm việc thành công, nên tạo danh tiếng, được đời sau xem là bậc thánh nhân. Đó là nhà hở ở dưới, kín ở trên. Nếu mà trên dột không kín thì dưới không thể ở được.

Thứ năm: XÉT VIỆC ĐÁNG NGHI.

    Phép xét điều dáng nghi là xét màu đỏ tím, phân biệt âm cung – thương. Cho nên các màu hồng, tím làm loạn màu đỏ, tiếng dâm làm nhiễu loạn loại âm nhạc đúng đắn. Loạn sinh ở xa, nghi sinh ở ngờ.

Các vật có nhiều loại khác nhau, các hình sắc giống nhau. Đá trắng như ngọc, kẻ ngu cũng quí. Mắt cá giống như hạt châu, kẻ ngu cũng lấy. Giống chồn lạc giống như chó, kẻ ngu cũng nuôi. Cây quát, cây lâu giống như dưa, kẻ ngu cũng ăn. Cho nên Triệu Cao chỉ con nai cho là con ngựa mà Tần Vương chẳng lấy làm nghi; Phạm Lãi cống gái đẹp nước Việt mà Ngô Vương chẳng lấy làm ngờ.

Mưu kế mà nghi ngờ thì việc không định yên, việc mà nghi ngờ thì không thành công. Cho nên thánh nhân không thể lấy sự thuyết trình ý kiến làm rõ ràng, thì ắt là tin cậy ở sự bói toán, để xem việc lành dữ.

Kinh Thư nói rằng: Ba người chiêm đoán thì ắt là theo lời hai người, nếu còn nghi nhiều thì dùng tới mưu kế của đông người.

Cho nên Khổng Tử nói rằng: Phép trị nước của bậc vua sáng suốt là không lo rằng người chẳng biết mình mà chỉ lo cho mình chẳng biết người, không lo ngoài chẳng biết trong mà chỉ lo trong  chẳng biết ngoài; không lo dưới chẳng biết trên mà chỉ lo trên chẳng biết dưới; không lo hèn chăngr biết sang mà chỉ lo sang chẳng biết hèn.

Cho nên kẻ sĩ chết cho người biết mình, gái đón nhận người mến quí mình, ngựa chạy mau vì người biết cưỡi nó, thần linh hiện ra cho người thông cảm.

Cho nên bậc vua trong loài người thì khi xử án hành hình (tử hình) chỉ lo rằng mình không sáng suốt, hoặc kẻ vô tội bị kết án, hoặc kẻ có tội được tha thứ, hoặc kẻ mạnh được nhường nhịn, hoặc kẻ yếu bị xâm phạm, thù oán hoặc kẻ ngay thật bị oan uổng hoặc kẻ oan khuất chẳng được tháo gỡ, hoặc kẻ tín thực bị nghi oan, hoặc  người trung nghĩa bị hãm hại. Đó là do nghịch khí Trời, nạn tai ách bạo ngược, vạ họa ương rối loạn.

Chỉ có bậc vua sáng xuốt xử án, kết tội, tìm hỏi tình tiết, nếu không hư dối, không giấu giếm, không cong vạy, không che đậy, xem sự qua lại, xét sự tới lui, nghe tiếng đồn đại, xem cách trong nhin, vẻ mặt sợ hãi, tiếng kêu thảm thương, sự đến mau đi chậm, quay về thở than: đó là kẻ bị kết tội oan uổng, không được tháo gỡ.

Còn kể cúi mặt nhìn trộm, thấy mà sợ, lui về, hơi thở hổn hển, chẳng dám nghe ngóng, trầm ngâm tính kế trong bụng, nói năng trài phép, đến chậm đi mau, không dám quay nhìn: đó là tội nhân muốn lẩn tránh.

Khổng Tử nói rằng: Coi thử để làm gì, xem thử do đâu mà ra, xét thử an vui ở chổ nào, người ta có thể giấu giếm được sao? Người ta có thể giấu giếm được sao?

Thứ sáu: TRỊ NGƯỜI.

   Phép trị người là phong hóa của đạo, nhờ sự bày tỏ ra ngoài mà thi hành được.

Cho nên Kinh sách nói rằng: Bày tỏ đức và nghĩa ra thì dân hưng thịnh và hành thiện, bày tỏ sự thương ghét ra thì dân biết điều cấm đoán.

Ánh sáng của mặt trời, mặt trăng được dân chúng ngẩn mặt lên xem, đó là trường hợp các vua Nghiêu Thuấn được các giống rợ ở chốn xa xôi đến cống hiến.

Đối với các vua Kiệt Trụ thì thuộc hạ bội phản, không phải là do Trời làm cho lòng người thay đổi, mà là do người trên khiến ra như vậy.

Cho nên trị người còn giống như trồng lúa, trước hết phải nhổ cỏ.

Phép chính trị của bậc vua sáng suốt cốt là hiểu điều lo âu của người, hiểu biết các chức lại nhỏ hầu hạ tay chân, hiểu biết các chức quan lớn của nước nhỏ.

Cho nên có nói: Kẻ tay chân hầu hạ khắc hại dân chúng không chừa nơi nào, chẳng biết tới đâu là cùng cực. Khắc hại miếng ăn (lợi lộc) của nhân dân mà nhân dân chịu nạn đói kém ắt là sinh ra loạn nghịch.

Chỉ khuyến khích nghề nông mà không đoạt thì giờ của nông dân, chỉ thu thuế má mà không lấy hết của cải dân chúng, như thế nước giàu mà dân yên, chẳng phải là thích đáng hay sao? Có nước có nhà thì không lo nghèo mà chỉ lo không yên.

Cho nên nền chính trị của thời Đường Ngu gặp nhau ở chổ lợi người, dùng thời Trời, chia lợi Đất, để chuẩn bị các năm xấu. Mùa thu dư lương thực để bù thêm vào các mùa thiếu lương. Của cải trong thiên hạ thông thương với nhau, ngoài đường không lượm của rơi và công việc của dân không hề khi thihì bỏ khi thì làm.

Cho nên theo cái thế của đời Ngũ Bá thì người không có đủ lại hiến dâng cho kẻ có dư, đo đó ngày nay các chư hầu đều tham lợi. Điều lợi sinh ra thì dân chúng tranh nhau, các điều tai hại cùng xảy ra, kẻ mạnh người yếu xâm phạm nhau, việc tự sức cày cấy thì ít ỏi mà việc công thương thì nhiều, đời sống của dân trôi nổi như mây trời, tay chân không được yên ổn.

Kinh sách nói rằng: Không quí vật có được, khiến dân không trộm cắp, không quí vật vô dụng, khiến lòng dân chẳng loạn, tất cả chỉ chăm lo, coi sóc phận sự của mình mà thôi, đó là phép chính trị của thánh nhân.

Ngày xưa vào thời Tề Cảnh Công, chỉ lo dân không tiêu pha xa xỉ và không thỏa lòng về lễ chế, còn nghi chế đời Chu Tần thì bỏ vă vể bề ngoài, chỉ giữ thực chất và khuyên dân trọng điều ít lợi.

Chế ra những vật vô dụng, chứa những hàng hóa vô ích, vàng bạc, ngọc bích, ngọc trai, chim phỉ thúy, các vật quí báu lạ lùng, sản xuất từ phương xa, đó chẳng phải là đồ dùng của hạng thường dân. Gấm vóc, thao đũi, lụa là, the sa, áo lục bạch đen vàng, đó chẳng phài là thứ mà thường dân mặc. Đồ chạm khắc to vẽ, các vật tinh xảo khéo léo, các việc khó thành điều có trở ngại cho nghề nông. Xe kiệu ra vào, áo bào, áo dạ, áo tơ, đó chẳng phải là thứ mà thương dân chưng diện. Cung thất, đường, điện, cửa lầu, tranh ảnh, thú vật, thành lũy dài rộng, mồ mả quá mức, tiêu phí hết của cải để tỏ vẻ cao thượng, đó chẳng phải là nơi ở của thường dân.

Kinh sách có nói: Điều mà kẻ thường dân yêu mến chỉ là sự siêng năng khổ sở về việc cày cấy, trồng trọt, là sự cẩn thận giữ mình, tiêu dùng dè dặt, để nuôi cha mẹ; lấy của cải chế ngự sai khiến họ, lấy lễ nghi sử dụng họ, năm tốt được mùa mà không xa xỉ, năm xấu mất mùa mà không tằn tiện, chứa trữ sẵn sang để phòng bị về sau, đó là đạo trị dân, chẳng hợp với tiết khí của bốn mùa hay sao?

Thứ bảy: CẤT NHẮC – SẮP ĐẶT.

  Phép cất nhắc, sắp đặt có ý nghĩa là cất nhắc người ngay thẳng, đặt yên các người cong vạy.

Phép trị nước giống như phép trị mình, Phép trị mình là cốt ở dưỡng thần (một trong tam bảo tinh, khí, thần của đạo gia), đạo trị nước cốt ở cất nhắc các bận hiền tài. Đó là dưỡng thần để cầu sống, cất nhắc hiền tài để cầu yên.

Cho nên nước có bậc đại thần phò tá cũng như nhà có cậy cột cái. Cột cái không thể nhỏ, bậc phò tá không thể yếu. Cột cái mà nhỏ thì có hại, bậc phò tá mà yếu thì nước nghiêng đổ.

Cho nên đạo trị nước là cất nhắc người ngay thẳng, sắp đặt các người cong vạy thì nước ấy bèn yên ổn.

Về cột cái dùng cây thẳng đứng làm vững chắc, kẻ phò tà thì dùng kẻ sỹ ngay thẳng làm hiền tài. Cây thẳng lấy từ rừng sâu, kẻ sỉ ngay thẳng lấy từ hạ dân (dân đen).

Cho nên bậc vua trong loài người khi chọn lựa cất nhắc, ắt là phải mời kẻ ở ẩn.

Hoặc kể ôm gấu của quí trong thời nước loạn, phải ở cùng thứ vị với kể thất phu.

Hoặc kẻ tài cao trác tuyệt, không được thấy mời mọc.

Hoặc kẻ trung, hiền, hiếu, nghĩa mà làng xóm không cất nhắc.

Hoặc kẻ ẩn cư cầu chí làm việc nghĩa để đạt dạo.

Hoặc kể trung thực đối với vua mà bị lè đảng dèm pha.

Vua Nghêu chất nhắc kẻ ở ẩn, vua Thành Thang mời kể đã nếm trải nhiều cay đắng, ông Châu Công chọn lựa kẻ hèn để dùng, đều được người vừa ý để đem lại thái bình.

Cho nên bậc vua trong loài người treo thưởng, để đãi công lao, đặt ra các chức vị để đãi kẻ sỹ nên không bỏ sót quan chức nào, mở bốn cửa để mà hưng trị, chuyên việc biếu lụa huyền (lụa quý) để mời kẻ ẩn dật ở chốn thâm sâu, nhờ thế mà thiên hạ có lòng trở về và kẻ bất nhân phải rời xa.

Kẻ dùng được không phải là kẻ được nuôi, kẻ được mời không phải là kẻ được dùng, kẻ nghèo hèn thô lậu ở dưới, kẻ tài sắc ở trên; kẻ gian tà dèm pha được đắt chí, kẻ trung thực phải đi xa; phép biếu lụa huyền không được thi hành, mà cầu được hiền tài đến phò ta hay sao?

Ví bằng nước Ngụy không được trị yên, dân không được ở yên, đó là vì cái lỗi lầm bỏ mất kẻ hiền tài đó. Mất bậc thánh nhân hiền mà không nguy, được bậc nhân hiền mà không yên, điều ấy chưa từng có.

Thứ tám: TRA XÉT – TRUẤT PHẾ.

   Phép tra xét, truất phế có nghĩa là sửa thành tốt (cải thiện), bỏ điều xấu.

Bậc vua sáng suốt ở trên, lòng dạ sáng rực như Trời, xét biết việc tốt xấu, rộng khắp bốn biển, không đám bỏ sót các quan lớn ở nước nhỏ, soi xuống tới thường dân, cử dùng bậc hiền lương, đuổi bỏ kẻ tham lam biếng nhác khiến cho trên dưới được sáng sủa tốt lành và chờ đến khi sửa trị nước xong thì các bậc hiền tài đến tụ tập như mưa. Đó là khuyên làm điều tốt, lìa bỏ điều xấu, bày tỏ điều hay, việc dở.

Cho nên phép tra xét, phế truất cốt là biết cái khổ của người. Những cái khổ ấy có năm thứ:

  • Hoặc có viên chức nhỏ, nhận việc công mà làm việc tư, thừa dịp được quyền hành mà làm việc gian tà, tay trái cầm binh khí, tay mặt làm việc để sinh lợi riêng, bên trong xâm phạm tới quan trên, bên ngoài bòn rút của dân, đó là cái khổ thứ nhất.
  • Kẻ lầm lỗi nặng mà chỉ bị phạt nhẹ, pháp lệnh không công bằng, vô tội mà phải chịu tội, đến nổi thân thể bị tàn diệt. Hoặc có kẻ có tội nặng mà được khoan dung, giúp mạnh hiếp yếu, lại thêm hình phạt nghiêm khắc, trách cứ tình lý không đúng, đó là cái khổ thứ hai.
  • Có viên chức nhỏ có tội làm bậy bạ, gặp trường hợp người bị tố cáo oan uổng, mà không chịu nghe người ấy nói năng giải bày, lại che đậy tình tiết, bắt bớ bóc lột làm cho kẻ ấy phải vong mạng, việc oan uổng ấy bất thường, đó là cái khổ thứ ba.
  • Có nhiều quan lớn giữ chức trọng yếu, kiêm việc phò vua, trong coi việc chính trị mà tính lợi riêng, đối với người thân thì cư xử cong vạy (thiên lệch), đối với người thù thì bức thiết (bức bách hành hạ), làm việc quan thì sơ sài cẩu thả, không theo pháp chế, lại nhận việc thu thuế má lấy làm lợi riêng, đuổi cũ đãi mới, kết bè đảng với người cùng việc để chi thu tùy ý, làm việc giả dối sắp đặt sẵn sàng để đổi thành của nhà, đó là cái khổ thứ tư.
  • Có quan huyện tham công, khi coi việc thưởng phạt, việc công ích, sự phí tổn mua bán, nhiều việc đo lường thì tự chuyên về giá cả và số lượng, làm cho dân thất nghiệp, đó là cái khổ thứ năm.

Năm việc ấy là năm điều hại dân, có việc xảy ra như thế thì không thể không phế bỏ, nếu không có như thế thì không thể không thăng thưởng.

Cho nên Kinh thư có nói: Ba lần xét công lao, ba lần xét để truất phế, thăng thưởng thì sự sáng tối bày ra rõ ràng.

Thứ chín: TRỊ QUÂN.

  Việc trị quân là việc coi biên cảnh, là đạo cứu nước: trong cơn hoạn lớn, lấy uy vũ làm phép tắc, đánh dẹp kẻ bạo nghịch để giữ nước nhà bền vững, là kế vị yên xã tắc.

Đó là đã có văn thì phải có võ. Cho nên con vật uống máu ắt phải có nanh vuốt, vui thì cùng chơi, giận thì hại nhau. Con người không có nanh vuốt nên mới bày ra binh khí để mà tự vệ. Cho nên nước dùng quân đội để phụ trợ. Vua dùng bề tôi để phò tá.

Kẻ phụ trợ mạnh thì nước yên, kể phụ trợ yếu thì nước nguy, đó là do cách bổ nhiệm tướng súy.

Chẳng có dân nào mà không có tướng, chẳng có nước nào mà không có bề tôi phò tá, chẳng có quân đội nào mà không có chủ.

Cho nên muốn trị nước thì lấy văn làm phép tắc, muốn trị quân thì lấy võ làm mưu kế.

Trị nước không thể theo ngoài, trị quân không thể không theo trong. Trong là trăm họ trong nước, ngoài là rợ nhung (phía Tây) và rợ địch (phía Bắc). Rợ nhung, rợ địch khó lấy lễ mà giáo hóa, dễ lấy uy vũ mà khắc phục.

Lễ nghi áp dụng tùy nơi, uy vũ thi thố tùy chổ: đó là trường hợp vùa Huỳnh Đế đánh dẹp tại vùng Trác Lộc, vua Nghiêu đời Đường đánh dẹp tại song Đan Phổ, vua Thuấn đánh rợ Hữu Miêu, vua Vũ dẹp rợ Hữu Hổ.

Các Chúa Thánh từ đời Ngũ Đế, Tam Vương đều dùng đức mà cảm hóa như vậy, ngoài ra mới dùng uy vũ. Cho nên việc binh là việc dữ, cực chẳng mới dùng.

Về đạo dùng binh thì trước hết phải định mưu kế, rồi sau mới thi hành việc binh, tìm hiểu đạo trời đất, xét lòng người, tập sử dụng binh khí, hiểu rõ lý thưởng phạt, quan sát mưu kế của địch, xét các chổ đường sá hiểm trở, phân biệt các nơi an nguy, xem tình thế chủ khách, biết khi nào nên tới nên lui, thuận theo cơi hộ, sắp đặt chuẩn bị việc phòng ngự, tăng cường cái thế chinh phạt, nâng cao năng lực của sĩ tốt, lo toan việc sống chết, rồi sau đó mới ra dùng tướng, mở rộng cái thế bắt địch, đó là tóm tắt sơ lược phép cầm binh.

Bậc tướng súy cầm vận mệnh của nhân dân, là khí cụ sắc bén của nước nhà, trước hết hoạch định mưu kế, rồi sau ban hành mệnh lệnh, giống như là chim ưng, chim chuẩn chụp mồi, lặng lẽ giống như cung nỏ trương sẵn, chuyển động như máy móc phát chạy, hướng vào chổ nào thì phá hủy chổ ấy mà kẻ kình địch phải tự duyệt.

Tướng không lo nghĩ, sĩ tốt khống có thế mạnh và không đồng lòng, mà chỉ chuyên dùng mưu kế, dầu có binh trăn vạn, cũng không làm cho địch sợ hãi.

Không thù nghịch thì chẳng oán hận, không phải thù địch thì chẳng nên đánh.

Xét về công trình nếu chẳng có mắt của Lỗ Ban thì không biết lấy gì để trông thấy sự tinh xảo; xét về chiến đấu nếu không có mưu trí của Tôn Vũ thì không biết lấy gì để thi thố, vận dụng kết hoạch.

Mưu kế cần phải mật nhẹm, đánh địch cần phải mau chóng, bắt địch như chim ưng chụp mồi, đánh phá như nước vỡ bờ, ắt là binh lính chưa mệt mà quân địch phải tự tan vỡ, đó là thế dùng binh.

Cho nên kẻ giỏi đánh thì không giận, kẻ giỏi thắng thì không sợ. Vì thế cho nên bậc trí thức trước đã thắng rồi sau mới mong đánh, kẻ ngu độn trước phải đánh rồi sau mới mong thắng.

Người thắng theo đạo lý mà sửa chữa đường lối, kẻ bại hành động tà vạy nên lạc lối, đó là kế thuận lý hay nghịch lý đó.

Bậc tướng súy phải làm cho mọi người phục uy vũ của mình, kẻ sỹ tốt phải chuyên cần tập luyện cho mạnh mẽ.

Binh thế chẳng nên chấn động vô ích, phải vận chuyển như đá tròn từ cao rơi xuống, hướng vào chổ nào thì phá vỡ chổ ấy, không thể cứu ngăn được. Như thế để mà trước mặt không ai địch lại, sau lưng không ai địch lại, đó là thế dùng binh.

Cho nên việc quân lấy kế hoạch lạ lùng làm mưu mô, lấy trí thức tuyệt diệu làm chủ chốt.

Mềm được cứng được, yếu được mạnh được, còn được mất được.

Mau chóng như gió như mưa, như thả như sông như biển, yên lặng như Thái Sơn, khó hiểu như âm dương, vô cùng như đất đai, đầy đủ như trời, không bao giờ hết như nước sông ngòi, có đầu có đuôi như tam quang (mặt trời, trăng, sao), sống chết như bốn mùa, suy vượng như ngũ hành, phép kì (biến ảo) và phép chính (thường dùng) sinh nhau mà không bao giờ hết.

Cho nên quân đội lấy lương thực làm gốc, binh pháp lấy kỳ, chính làm đầu, lấy khí giới để áp dụng, lo tích trữ để phòng bị.

Cho nên nước nhà khốn đốn vì vật dụng đắt đỏ, nghèo nàng vì chuyển quân đi xa. Không thể công phá hai lần, không thể chiến đấu ba lần. Đo lường sức mạnh mà dùng, dùng nhiều ắt là tốn kém, mau hết.

Trừ khử cái vô ích thì nước nhà trở nên tốt lành, đuổi bỏ kẻ bất tài, ắt là nước nhà được lợi ích.

Kẻ đánh phá giỏi thì quân địch không biết nơi nào mà giữ, kẻ giữ gìn giòi thì quân địch không biết nơi nào mà đánh. Cho nên kẻ đánh phá giỏi không cần dùng binh khí, kẻ giữ gìn giỏi không cần dùng thành quách. Đó là thành cao, hào sâu không đủ làm vững chắc, giáp cứng binh giỏi không đủ mạnh mẽ.

Địch muốn giữ vững thì ta đánh chúng lúc không phòng bị, địch lập trận thì ta đánh chúng lúc bất ngờ.

Ta đi thì địch đến, cẩn thận sắp đặt chổ ở. Ta khỏi đánh thì địch dừng lại, ta bèn đánh ở hai bên hông phải và trái.

Ta tính (trước) người gặp địch, đánh trước chỗ có thực của chúng thì chúng không biết cất giữ, không biết ngày đánh.

Biết phòng bị (tức là cũng như) có nhiều người, ắt là chuyên chú phòng bị thì sẽ thiếu người. Lấy điều lo lắng để phòng bị cho nhau, xét sự mạnh yếu để cùng đánh, xét sự dũng khiếp để giúp nhau, đằng trước và đằng sau phải cùng đi theo một hướng, hai bên phải và trái cùng đi theo một chiều như rắn Thường Sơn, đầu đuôi cùng đến, đó là phép tiếp cứu của quân đội.

Cho nên kẻ thắng thế, ắt phải có uy vũ hoàn toàn, tự riêng mình lập mưu kế, biết hình thế đất đai, không thể nói trước cho người biết, bàn  luận mà biết hơn thua, địch giả dối mà mình cũng biết chúng yên hay nguy, tính toán mà biết quân địch nhiều hay ít, xem hình trạng của địch mà biết địch có thể sống hay chết, xem cách địch lo liệu mà biết chúng sướng hay khổ, xem cách mưu đồ mà biết chúng tài giỏi sung túc như thế nào.

Cho nên phép cầm binh là theo sống mà đánh chết, tránh thực mà đánh hư.

  • Đánh tại núi đồi thì không đánh lên.
  • Đánh dưới nước thì không đi ngược dòng.
  • Đánh trong vùng lau cỏ thì không lội qua chổ sâu.
  • Đánh tại đất bằng thì không đi ngược vào chổ trống trải.
  • Đánh trên đường thì không đi ngược vào chổ đường độc đạo.

Năm điều ấy là những chổ lợi ích của binh pháp, chổ hổ trợ của đất đai.

Việc quân:

  • Thành công nhờ cách dùng thế, bại vong vì mưu kế tiết lộ.
  • Đói vì đi xa, khát vì hết giếng.
  • Mệt vì phiền nhiễu, nhàn rỗi nhờ yên tĩnh.
  • Nghi thì không đánh, ngờ vì thấy lợi.
  • Lui vì sợ hình phạt, tới vì được ban thưởng.
  • Yếu vì thấy bị hiếp bức, mạnh nhờ dùng thế.
  • Khốn vì bị vây, lo vì tới trước.
  • Sợ vì đêm nghe tiếng la, loạn vì sự ám muội.
  • Mê mờ vì trái đạo, cùng khốn vì vào đất chết.
  • Thua vì hung ác, được nhờ tính trước.

Cho nên:

  • Đặt ra cờ xí để mắt thấy rõ.
  • Đánh chiêng trống để tai nghe rõ.
  • Đặt ra rìu búa để lòng người đồng nhất.
  • Bày rõ giáo lệnh để mọi người cùng theo một đạo lý chung.
  • Nêu cao sự ban thưởng để khuyến khích công lao.
  • Thi hành việc trừ giết để đề phòng sự giả dối.
  • Đánh ngày mà không nghe nhau thì giơ cờ xí làm dấu hiệu.
  • Đánh đêm không thấy nhau thì nổi lửa, đánh trống.

Lệnh dạy không nghe theo thì sử dụng búa rìu để trừng phạt

Không biết điều tiện lợi của chín thế đất ắt không biết chín cách biến hóa.

Tính chất âm dương của trời, hình tên của đất đai, lòng dạ của con người, biết được ba điều ấy thì thu hoạch thành công.

Biết được sỹ tốt của mình thì biết được quân địch. Không biết sỹ tốt của mình thì không biết quân địch. Không biết quân địch, mỗi lần đánh ắt sẽ thiệt hại. Cho nên khi đem quân đánh phá, trước hết phải biết lòng dạ của sỹ tốt và năm cách dùng gián điệp.

Điều mà quân sỹ yêu mến mà tướng súy coi xem trọng hậu, nếu không có thánh trí thì không dùng được, nếu không phải nhân hiền thì không thể sai khiến.

Phép ngũ gián mà được hợp tình ắt là dân chúng có thể sử dụng, nước nhà có thể bào tồn lâu dài.

Cho nên binh muốn sống thì phải chuẩn bị, bất đắc dĩ mới đánh nhau, tĩnh để được yên ổn, động để tỏ uy vũ, không cậy vào sự địch không đến, mà nên cậy vào sự địch không thể đánh ta được, dùng binh gần để chờ đánh binh  xa, dùng binh an nhàn để chờ đánh binh nhọc  mệt, dùng binh no để chờ đánh binh đói, dùng chổ thực có của mình để đánh vào chổ khiếm khuyết người, dùng binh sống để chờ đánh binh chết, dùng binh nhiều để chờ đánh binh ít, dùng binh vượng để đánh binh suy, dùng binh ẩn nấp để chờ đánh binh đang đến, cờ xí ngay ngắn, chiêng trống chững chạc, đang theo ở đằng trước mà lật ngược ra đằng sau, giữ vững các chổ hiểm trở để xây dựng bề thế bên ngoài, lấy điều lợi để khuyến dụ địch, lấy điều hại để làm cho địch mềm yếu (thoái nhượng) đó là phép trị quân đầy đủ.

Thứ mười: THƯỞNG – PHẠT

  Phép tắc của sự thưởng phạt là thưởng điều thiện, phạt điều ác. Thưởng để nêu cao công lao, phạt để ngăn cấm điều gian tà.

Thưởng thì không thể không công bằng, phạt thì không thể không đồng đều.

Sự ban thưởng biết chổ mà thi hành ắt là dũng sĩ biết nơi mà liều chết. Hình phạt biết chổ mà áp dụng ắt là kẻ tà ác biết nơi mà kiêng sợ.

Cho nên thưởng không thể thi hành sai lầm, phạt không thể áp dụng bừa bãi. Thưởng sai lầm ắt bề tôi có công lao sẽ oán thán, phạt bừa bãi ắt là sĩ phu ngay thẳng sẽ hờn giận. Đó là trường hợp của Dương Canh phải chịu thiệt hại vài đã xử đoán bất công. Sở Vương phải bại trận vì đã tin lời dèm pha.

Người tướng chuyên dùng uy quyền sinh sát, ắt là kẻ đáng giết thì cho sống, kẻ đáng sống thì đem giết đi, giận dữ không có lý do rõ ràng, phạt thưởng không sáng suốt, lệnh dạy không thường, lấy việc riêng làm việc chung, đó là năm điều nguy hại của quốc gia.

Thưởng phạt không sáng suốt, lệnh dạy có khi không theo đúng, ắt là kẻ đáng sống thì đem giết chết, bọn gian tà không ngăn cấm ắt là kẻ đáng chết thì cho sống.

Sỹ tốt tan vỡ, giận dữ không có lý do rõ ràng, uy vũ không thi hành, thưởng phạt không sáng suốt, không khuyến khích công việc của kẻ dưới, phép chính trị và giáo hóa không thích hợp, pháp lệnh không được tuân theo, lấy việc riêng làm việc chung thì người sẽ sinh hai lòng.

Cho nên bọn gian tà mà không ngăn cấm được thì sự nghiệp không tồn tại lâu dài.

Sỹ tốt tan vỡ thì người sẽ ít ỏi.

Uy vũ không thi hành thì khi thấy quân địch, binh sẽ không muốn đánh.

Không khuyến khích công lao của kẻ dưới thì bề trên sẽ không được giúp đỡ mạnh mẽ.

Pháp lệnh không được theo đúng thì công việc sẽ lộn xộn không chỉnh đốn được.

Người có hai lòng thì nước nhà sẽ nguy hại.

Cho nên dùng chính pháp để phòng ngự kẻ gian tà, lấy sự kiệm ước để cứu chữa việc xa xỉ, người trung thực có thể cử coi ngục tù, người liêm khiết công bình có thể coi việc thưởng phạt. Thưởng phạt không tà khúc ắt là người ta dầu chết cũng cam phục. Trên đường có người đói mà trong chuồng ngựa béo, điều ấy có thể gọi là giết người ta chết để mình được sống, xử mỏng với người mà dày với mình.

Cho nên bậc vua của loài người trước hết mới tìm rồi sau mới ban thưởng trước hết cho giáo lệnh rồi sau mới trừng phạt, ắt là có người thân cận phụ họa theo, kính sợ mà thương mến.

Không ra lệnh là thi hành, thưởng phạt không thích đáng, ắt là trung thần sẽ chết vì việc không đáng tội, mà gian thần sẽ được thăng thưởng nhờ việc không đáng công.

Ban thưởng mà không tỵ hiềm người có thù oán với mình, nhờ đó mà Tề Hoàn Công được sự giúp sức của Quản Trọng; trừng phạt mà không miễn cho thân nhân họ hàng gần xa, đó là trường hợp Chu Công giết em mà nổi tiếng.

Cho nên Kinh Thư nói rằng:

Không thiên lệch, không bè đảng.

Vương đạo rộng rãi.

Không bè đảng,  không thiên lệch.

Vương đạo công bằng.

Đó là điều đã nói ở trên.

Thứ mười một: MỪNG – GIẬN.

   Phép mừng giận là khi mừng thì  chẳng nên mừng về việc không đáng mừng, khi giận thì chẳng nên giận về điều không đáng giận.

Trong khi mừng giận phải hiểu rõ vào loại nào. Khi giận không nên làm hại kẻ vô tội, khi mừng không nên nghe theo lời kẻ sĩ đáng trừ bỏ.

Lúc mừng giận không thể không hiểu rõ lý do. Khi mừng không nên tha cho kẻ có tội, khi giận không nên giết kẻ vô tội.

Trong việc mừng giận, không nên làm bậy bạ, làm việc tư mà bỏ việc  công. Người tướng không thể giận việc riêng mà gây việc chiến tranh mà phải lợi dụng tâm chí của quần chúng, còn nếu lấy sự giận việc riêng mà gân chiến ắt là việc sử dụng quần chùng phải thất bại.

Đã giận rồi không thể vui trở lại, đã mừng rồi không thể lại giận.

Cho nên trước hết dùng văn rồi sau đó mới dùng võ. Trước hơn ắt là sau thua, trước giận ắt là sau hối tiếc, chỉ một sáng giận dữ để thân thể phải tiêu vong.

Cho nên người quân tử uy nghiêm mà không dữ tợn, bực tức mà không giận dữ, lo mà không sự,  vui mà không mừng, phải có việc đáng bực tức rồi sau mới dùng uy vũ thêm vào.

Dùng uy vũ thêm vào ắt là hình phạt được thi hành, hình phạt thi hành ắt là bọn gian tà bị ngăn cản. Không dùng uy vũ thêm vào ắt là hình phạt không đúng, hình phạt không đúng ắt là các việc xấu không được sửa chữa, nước ấy phải mất.

Thứ mười hai: DẸP LOẠN.

  Phép trừ rối loạn là khảo sát quan lại, kiêm gồm các chức vụ, dẹp bỏ cái văn vẻ giả dối ở bên ngoài, giữ lại cái thực chất ở bên trong.

Nếu các việc làng nhàng không dứt ắt là có mầm loạn sinh ra, nếu các việc nhỏ nhen hèn hạ không trừ ắt là trở nên tai họa quái gở.

Nếu ba giềng (tam cương: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ) không ngay thẳng, sáu mối (lục kỉ: hàng cha, hàng anh em, họ hàng, hàng cậu, hàng sư trưởng, bạn bè) không chỉnh đốn ắt là loạn lớn sinh ra.

Cho nên phép trị nước là giống như vẽ hình tròn thì đừng cho sai với thước quy (compa), vẽ hình vuông thì đừng cho sai với thước củ (ê –ke), có gốc đừng để mất ngọn, làm chính trị thì đừng để cho mất đạo lý, như thế muôn việc có thể thành công, công nghiệp có thể bảo tồn.

Ba quân loạn lạc, lộn xộn rối ren, đều phải  tìm hiểu lý do.

Khi bậc vua sáng suốt sắp đặt giềng mối (phép tắc) thì nền chính trị nên có việc trước, việc sau:

  • Trước sửa giềng, sau sửa mối.
  • Trước sắp đặt mệnh lệnh, sạu sắp đặt hình phạt.
  • Trước lo gần, sau lo xa.
  • Trước lo trong, sau lo ngoài.
  • Trước lo gốc, sau lo ngọn.
  • Trước lo việc mạnh, sau lo việc yếu.
  • Trước lo việc lớn, sau lo việc nhỏ.
  • Trước lo sửa mình, sau lo sửa người.

Đó là sửa giềng, mối được tháo gỡ.

  • Sắp đặt mệnh lệnh thì hình phạt phải thi hành.
  • Lo việc gần thì việc xa yên.
  • Lo việc trong thì việc ngoài ngay thẳng.
  • Sửa gốc thì ngọn được thông.
  • Lo việc mạnh thì việc yếu cũng bành trướng.
  • Lo việc lớn thì việc nhỏ cũng thi hành.
  • Sửa phần trên thì phần dưới cũng được ngay thẳng.
  • Sửa mình thì được người kính.

Đó là đạo trù loạn vậy.

Thứ mười ba: LỆNH DẠY.

  Phép lệnh dạy có nghĩa là trên dạy dưới. Lời trái lẽ đừng nói, việc trái đạo đừng làm, các việc mà người trên làm là chổ mà người ta ngước mắt trông vào.

Tha thứ cho mình mà đi dạy người đó là phép tắc trái ngược, sửa mình cho ngay thẳng để dạy người, đó là phép tắc hợp lý.

Cho nên bậc vua của loài người trước hết phải sửa mình rồi sau đó mới ban hành mệnh lệnh. Mình không ngay thẳng thì mệnh lệnh không được nghe theo, mệnh lệnh không được nghe theo ắt là sinh ra biến loạn.

Cho nên đạo làm vua trước hết là ban hành lệnh dạy dỗ, rồi sau mới trách phạt. Không dạy dỗ, tập luyện quân sỹ mà đem đi đánh dẹp thì cũng như đem chúng vứt bỏ đi. Trước hết tập luyện sĩ tốt về phép dùng binh thì có năm phép tắc.

Thứ nhất là sai khiến con mắt: Tập luyện cách biến động theo sự chỉ huy cờ xí, chạy dọc chạy ngang theo ý muốn.

Thứ hai là sai khiến lỗ tai: Tập nghe tiếng chiêng trống, cách động tĩnh đi đứng.

Thứ ba là sai khiến lòng dạ: Tập chịu nghiêm cách của hình phạt, hưởng điều lợi ích của tước lộc, thưởng.

Thứ tư là sai khiến cái tay: Tập cho biết phương tiện của năm binh, chuẩn bị việc chiến đấu.

Thứ năm là sai khiến cái chân: Tập các phép xông vào hay chạy trốn và cách tới lui cho được chu toàn.

Cho nên gọi là năm cách dạy: lệnh về dạy về quân trận đều có phép tắc.

Bên trái dạy Thăng Long.

Bên phải dạy Bạch Hổ.

Đằng trước dạy Chu Tước.

Đằng sau dạy Huyền Võ.

Ở giữa là chổ ở của Hiên Viên Đại Tướng Quân.

Bên phải là mâu bên phải là kích, đằng trước là thuẩn đằng sau là nỏ, ở giữa là cờ trống, lúc động cùng dậy, nghe trống thì tới, nghe chiêng thì lui, tùy theo sự chỉ huy, năm trận bèn có thể sắp bày.

Theo trận pháp chính cách thì cờ trống là chủ chốt.

Một tiếng trống, đưa cờ xanh lên, ắt là bày trận thẳng (trực trận) tức là mộc trận.

Hai tiếng trống, đưa cờ đỏ lên, ắt là bày trận bén (nhuệ trận) tức là hỏa trận.

Ba tiếng trống, đưa cờ vàng lên, ăt là bày trận vuông (phương trận) tức là thổ trận.

Bốn tiếng trống, đưa cờ trắng lên, ắt là bày trận tròn (viên trận) tức là kim trận.

Năm tiếng trống, đưa cờ đen lên, ắt là bày trận cong (khúc trận) tức là thủy trận.

Trận ngũ hành ấy biến hóa mà sinh nhau, xung đối mà hơn nhau, sinh nhau để cứu nhau, hơn nhau để mà đánh phá, sinh nhau để giúp nhau, hơn nhau để mà đối địch.

Phàm phép lập trận là năm năm giữ nhau:

Năm người hợp thành một trưởng.

Năm trưởng hợp thành một sư.

Năm sư hợp thành một chi.

Năm chi hợp thành một hỏa.

Năm hỏa hợp thành một tràng.

Năm tràng hợp thành một quân.

Như thế ắt là quân sĩ hoàn bị.

Về việc binh, điều tiện lợi cốt là biết tiết độ:

Kẻ thấp cầm mâu kích.

Kẻ cao cầm cung nỏ.

Kẻ mạnh cầm cờ xí.

Kẻ bạo dạn cầm chiêng trống.

Kẻ yếu chu cấp lương thực và súc vật.

Kẻ trí thức lo lập mưu kế làm chủ chốt.

Làng xóm liên kết với nhau.

Năm năm giữ cho nhau.

  • Nghe một tiếng trống thì đi ngay ngắn.
  • Nghe hai tiếng trống thì tập trận.
  • Nghe ba tiếng trống thì khởi ăn.
  • Nghe bốn tiếng trống thì làm việc nghiêm chỉnh.
  • Nghe năm tiếng trống thì khởi hành.
  • Nghe tiếng chiêng trống, rồi sau mới đưa cờ lên, đem binh ra có thứ lớp.

Một lần đánh trống ba hồi, giương cờ xí lên, ai dấy binh đánh trước thì thưởng, ai rút lui thì chém. Đó là lệnh dạy.

Thứ mười bốn: CHÉM ĐỨT.

  Phép chém đứt là chém những kẻ không làm theo lệnh dạy. Phép chém ấy có bảy trường hợp:

  • Thứ nhất là trộm cắp.
  • Thứ nhì là khinh thường.
  • Thứ ba là ngạo mạng.
  • Thứ tư là lừa dối.
  • Thứ năm là bội nghịch.
  • Thứ sáu là lộn xộn.
  • Thứ bảy là làm bậy.

Đó là những điều cấm đoán trong phép trị quân.

Đáng chém mà không chém thì phải chịu cảnh lộn xộn. Cho nên bày ra rìu búa uy nghiêm để chờ có những kẻ trái lệnh mà đem giết đi.

Luật pháp của quân đội thuộc đẳng cấp khác thường:

  • Lỗi nhẹ là phạt nặng.
  • Mệnh lệnh không thể làm trái, làm trái là phải chém.

Việc họp hội đã định trước mà không tới; nghe trống mà không đi; thừa lúc khoan thai mà tự ý dừng lại; khi cần tránh lui mà tự ý đứng lại; ban đầu là ở gần, về sau thì ở xa; gọi tên không ứng đáp; xe giáp không đầy đủ; binh khí không chuẩn bị; đó là quân tính khinh nhường, quân khinh nhường thì phải đem chém.

Nhận được lệnh mà không truyền đi; truyền lệnh không cẩn thận, hẳn hoi; làm mê hoặc các lại sĩ; không nghe tiếng chiêng trống; không nhìn cờ xí; đó là quân ngạo mạn, quân ngạo mạng thì phải chém.

Ăn phần lương không cho ăn; làm việc quân mà không tiết kiệm số lính; chu cấp cho kẻ dưới không đồng đều, chỉ a dua riêng theo người thân; lấy đồ vật chẳng phải của mình; vay mượn mà không trả; đoạt đầu mục của người, để chiếm công lao; đó là quân trộm cắp; quân trộm cắp thì phải chém.

Thay đổi tên họ, y phục không hẳn hoi; cờ xí rách nát; chiêng trống không đủ; giáo mác không mài; binh khí không chắc chắn; tên không gắn long, cung nỏ không có dây; pháp lệnh không thi hành; đó là quân lừa dối, quân lừa dối thì phải chém.

Nghe trống mà không tiến; nghe chiêng mà không dừng, cờ hạ xuống mà không núp; cờ giơ lên mà không đứng dậy; không theo lệnh chỉ huy; tránh đằng trước ra đằng sau; đi xa lộn xộn không có hàng ngũ; làm  hỏng cái thế cung nỏ; tránh lui mà không đánh; hoặc chạy qua trái hoặc chạy qua phải; nâng đỡ người bị thương, khiêng vác xác chết; tự nâng đỡ mà về; đó là quân bội nghịch, quân bội nghịch thì phải chém.

Khi tướng mang quân ra đi, sĩ tốt tranh nhau đi trước, rối loạn lộn xộn, xe ngựa liền nhau, bít nghẽn đường đi, đằng sau không thể tới trước được, kêu gọi ồn ào, nói không nghe được, hàng ngũ rối loạn mất hết thứ tự; binh khí tổn hại, dài ngắn không sắp đặt gọn gang, trên dưới dọc ngang; đó là quân lộn xộn, quân lộn xộn thì phải chém.

Nơi quân đội dừng lại đóng đồn lập dinh, hỏi thăm xóm làng, gần gũi nương nhau, giữ gìn lương thực cho nhau, không được vượt hàng ngũ của mình; miễn cưỡng nhập vào hàng ngũ của toán khác, làm sai lạc thứ tự, bị quở trách mà không chịu thôi; ở chốn dinh trại, không chịu theo cửa ngõ mà ra vào, không chịu tự mình thưa trình; chổ nào có kẻ gian tà dấy lên làm bậy bạ, những ai biết được mà không báo cáo thì cũng đồng tội một hạng như nhau; hội họp cùng người uống rượu; a dua nhau làm các việc tư tà, lấy hoặc nhận đồ vật của người; lớn tiếng hăm dọa, nghi hoặc lại sĩ, đó là quân làm bậy, quân làm bậy thì phải chém.

Chém bọn ấy xong, mọi việc mới được chỉnh đốn.

Thứ mười lăm: LO TÍNH.

Phép lo tính là lo gần tính xa.

Người không tính xa ắt phải lo gần.

Cho nên người quân tử không lo toan ngoài địa vị của mình. Lo là sắp đặt mưu mô, tính là sắp đặt kế hoạch làm việc. Không được địa vị thì chẳng nên mưu tính việc chính trị; không có việc làm thì chẳng nên sắp đặt kế hoạch.

Việc lớn bắt đầu từ chổ khó, việc nhỏ bắt đầu từ chổ dễ.

Cho nên muốn tính điều lợi ắt phải lo điều hại; muốn tính việc thành ắt phải lo việc bại. Đó là trường hợp Cửu Trùng Đài tuy cao lớn nhưng ắt có ngày hư hoại.

Cho nên ngẩng mặt trông lên thì không nên sơ ý phía dưới; đằng trước thì không nên sơ ý đằng sau. Đó là trường hợp Tần Mục Công đánh nước Trịnh mà hai người con biết sẽ bị thiệt hại; vua Ngô nhận mỹ nhân Việt mà Ngũ Tử Tư biết sẽ thất bại; nước Ngu nhận ngựa làm bằng ngọc bích mà Cung Chi Kỳ biết sẽ bị thiệt hại; Tống Tương Công tập luyện binh xa mà Mục Di biết rằng sẽ thua. Trí thức như thế, lo tính chu đáo như thế, có thể gọi là sáng suốt vậy.

Nương theo dấu vết của trận đổ vỡ, đi theo đuôi các việc suy sụp, chìm đắm, để tiến tới trước, thì làm sao mà tới kịp được. Cho nên nhà Tần nối nghiệp bá chủ mà không theo kịp đạo của Nghiêu, Thuấn.

Sự nguy biến sinh ra từ sự yên ổn.

Sự mất sinh ra do sự còn.

Điều hại sinh ra từ điều lợi.

Sự rôi loạn sinh ra từ sự yên trị.

Bậc quân tử xem điều nhỏ nhặt mà biết rõ ràng, thấy đầu mà biết đuôi nên tai họa không thể theo đâu mà dấy lên được, đó là phép lo tính.

Thứ mười sáu: XEM XÉT ÂM THẦM.

Phép xem xét âm thầm cũng giống như phân loại các đồ vật để hiểu rõ ý nghĩa của mỗi vật.

Ngoài bị tổn thương ắt trong bị cô độc; trên ngờ ắt dưới nghi; nghi ắt người thân không dùng; ngờ ắt người xem xét không đúng phép; không đúng phép thì mưu kế sẽ bị rối loạn; mưu kế rối loạn thì nước gặp cảnh nguy nan; nước nguy nan thì không yên ổn.

Đó là kế thường suy nghĩ thì lo xa; lo xa thì yên ổn; không lo nghĩ thì sẽ gặp nguy nan.

Kẻ giàu thì được thỏa chí; kẻ nghèo thì không gặp thời.

Ham thích nhiều thì sẽ tiêu phí nhiều; chứa trữ nhiều thì mất mát nhiều.

Đua nhau mua sắm thì hết tiền của; chuyên quyền  thì sẽ không thành công.

Nhiều người cùng lo một việc thì phiền phức; sự phiền phức sinh ra do sự lười biếng, ỷ lại vào nhau.

Thuyền hở thì nước vào; túi thủng thì trong chẳng còn vật gì.

Núi nhỏ thì không có thú vật; nước cạn thì không có cá; cây yếu thì không có tổ chim.

Tường hư thì nhà nghiêng; đê vỡ thì nước tràn ngập.

Chạy mau thì ngã; đi thong thả thì chậm trễ.

Đi thuyền đến chổ cạn thì nguy; đi trên nước đá thì sợ.

Lội suối thì chết đuối; gặp nước thì vượt bằng thuyền.

Không mái chèo thì không thể qua sông; mất bạn thì phải mong chờ người xa.

Thưởng phạt thì xét công; không thành thực thì không tin cậy.

Môi sứt thì răng lạnh; lông rụng thì da yếu.

Kẻ nịn nọt thì lời nói rối loạn; chỉ nghe một bên thì sẽ tai hại.

Mưu đồ việc lành thì thắng; mưu đồ việc ác thì chia rẽ.

Người thiện khuyên người ác cũng  như mưa móc về mùa xuân.

Ngựa kì  và ngựa ký thì dễ cưỡi, ngựa nô và ngựa đài thì khó tập.

Không nhìn thì đui, không nghe thì điếc.

Rễ hư thì là sẽ khô; là khô thì hoa rụng; hoa rụng thì quả sẽ thối.

Trụ nhỏ thì nhà nghiêng ngả; gốc nhỏ thì ngọn lung lay.

Đưới nhỏ thì trên phải đổ.

Không phân biệt đen trắng, bỏ đồ cao quý mà dùng đá thì cọp và dê ở cùng bầy.

Áo rách thì vá, đai ngắn thì nối dài.

Chơi dao thì đứt tay, nhảy nhót thì què chân.

Giặt rửa không cần đến sông ngòi, cốt yếu là gội tẩy chất bẩn; cưỡi ngựa không cần tới ngựa kỳ và ngựa ký, cốt yếu là nhanh chân; dùng hiền tài chẳng cần phải thánh nhân, cốt yếu là có trí thức thông suốt, gồm có năm đức:

Thứ nhất là ngăn cấm việc hung bạo, dứt bỏ việc binh đao.

Thứ hai là tưởng  thưởng bậc hiền tài, trừng phạt kể phạm tội ác.

Thứ ba là làm cho dân chúng yên ổn, nhân ái, hòa hiệp.

Thứ tư là che chở, bao bọc cho người khác, xét định công lao.

Thứ năm là ngăn chặn sự phong hoa, xa xỉ, phản đối việc dèm pha.

Đó gọi là năm đức.

(Trích THẬP NHỊ BINH THƯ)

Phần sau tôi sẽ chia sẽ tiếp phần TƯỚNG UYỂN NGŨ THẬP THIÊN của BINH PHÁP KHỔNG MINH.

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu

E-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com

BINH PHÁP NGÔ TỬ: HẠ QUYỂN (NGÔ KHỞI).

Đây là phần HẠ QUYỂN trong BINH PHÁP NGÔ TỬ thuộc VŨ KINH THẤT THƯ của NGÔ KHỞI.

HẠ QUYỂN

Ngô Khởi (吴起)

Ngô Khởi (吴起)

Thiên thứ 4: LUẬN TƯỚNG

  Ngô Tử nói rằng: Ai có tài kiêm văn võ thì có thể làm tướng cầm ba quân; ai giỏi gồm được hai thuật cứng mềm thì có thể coi được việc binh.

Người ta luận tướng, thường xét tính dũng cảm của họ, nhưng tính dũng cảm ấy chỉ đáng coi là một phần nhỏ trong toàn thể đức tính của tướng suý. Người dũng cảm ắt là coi thường sự hợp chiến; coi thường sự hợp chiến mà không biết đâu là lợi ích, chưa phải là điều hay.

Cho nên tướng suý có 5 điều thận trọng:

–  Thứ nhất là chỉnh lí;

– Thứ hai là chuẩn bị;

–  Thứ ba là quả cảm;

– Thứ tư là giới luật;

– Thứ năm là giản ước;

– Biết chỉnh lí thì trị nhiều người cũng giống như trị ít người;

– Biết chuẩn bị thì đi ra cửa cũng giống như đi gặp địch;

– Có lòng quả cảm thì khi gặp địch, không hề cầu sống;

–  Biết giữ giới luật thì dù có hơn thua, cũng giống như mới đánh.

–  Có tính giản ước thì pháp lệnh vắn tắt mà không rắc rối. Nhận mệnh lệnh rồi thì không từ nan, dẹp địch xong rồi mới nói chuyện trở về, đó là lễ nghi của tướng suý.

Cho nên từ ngày ra quân, thà chết vinh còn hơn sống nhục.

Ngô Tử nói rằng: Việc binh có 4 binh cơ (bốn việc binh then chốt):

–  Thứ nhất là khí cơ;

–  Thứ hai là địa cơ;

–  Thứ ba là sự cơ;

– Thứ tư là lực cơ;

– Các việc sắp đặt to hay nhỏ của ba quân dù đông tới trăm vạn, cũng đều gom lại để do một người cầm nắm, đó gọi là khí cơ (việc chỉ huy);

–  Đường sá chật hẹp, hiểm trở, núi cao chận đường, mười người chấn giữ thì ngàn người không vượt qua được, đó là địa cơ (việc coi đất);

–  Giởi việc gián điệp, cho khinh binh đi về, làm li tán quân địch, khiến cho vui tôi họ oán nhau, trên dưới đổ lỗi cho nhau, đó gọi là sự cơ (việc gián điệp, tình báo);

–  Xe cộ bền bỉ, thuyền bè tiện lợi, sĩ tốt thiện chiến, ngựa voi tập quen di đứng, chạy nhảy, đó gọi là lực cơ (việc quân nhu và huấn luyện).

Biết rõ bốn việc ấy thì có thể làm tướng.

Tuy nhiên người tướng phải có đủ uy, đức, nhân, dũng để dẫn dắt người dưới, trị yên ba quân, khiến địch sợ hãi, có tài quyết đoán không để hồ nghi, ban lệnh cho thì kẻ dưới không dám làm trái, đến nơi nào thì giặc không dám chống cự. Được tướng ấy thì nước mạnh, bỏ tướng ấy thì nước mất, đó gọi là tướng giỏi.

Ngô Tử nói rằng:

–  Dùng chiêng trống chuông mõ là để tai sợ uy;

–  Vẫy phất cờ xí là để mắt sợ uy;

–  Bày ra các điều cấm chế, hinh phạt là để lòng sợ uy;

–  Tiếng làm tai sợ uy, không thể không thanh;

–   Sắc làm mắt sợ uy, không thể không sáng;

–   Hình phạt làm lòng sợ uy, không thể không nghiêm.

Ba việc ấy không hẳn hoi thì dù có được nước cũng bị địch đánh bại.

Cho nên có nói rằng:

–  Tướng vẫy về phía nào, không thể không đi theo phía ấy;

–  Tướng đã chỉ tay, không thể không tiến lên mà chết.

Ngô Tử nói rằng: Khi cần tranh chiến, việc cốt yếu là trước hết phải dò xét tướng lĩnh của quân địch, quan sát tài năng của họ, tuỳ theo hình thế mà dùng quyền mưu, thì không vất vã mà lập được công.

– Tướng của địch ngu ngốc mà lại tin người thì ta có thể lừa dối họ để dẫn dụ họ;

– Tướng địch tham lam mà không cầu danh thì ta có thể dùng tiền của để hối lộ;

– Tướng địch cử động không thận trọng mà lại thiếu quyền mưu, thì ta có thể làm cho họ vất vả, lâm cảnh nguy khốn;

–  Bên địch người trên giàu có mà kêu căng, kẻ dưới nghèo khó mà oán vọng, thì ta li gián họ;

–  Quân địch tới lui không quyết định, sĩ tốt không biết nương tựa vào đâu, ta có thể làm cho họ rung động mà chốn chạy;

–   Bên địch, sĩ tốt coi thường tướng suý mà có bụng muốn về, chọn các nơi dễ đi, mở thông các nơi khó đi, ta chờ cơ hội mà đánh chiếm;

–   Quân địch dễ tới, khó lui, như thế chúng có thể tiến tới trước( để đánh ta);

–   Quân địch khó tới, dễ lui, ta có thể xông tới gần mà đánh chúng;

–   Địch đóng quân nơi ẩm thấp, nước chảy không thông, gặp khi mưa dầm, thì sẽ bị lụt lội, chìm đắm;

–   Địch đóng quân nơi hoang vu, cỏ gai rậm rạp, gió thường thổi mạnh, ta có thể dùng lửa để đốt chúng;

–  Địch ở mãi không đi, tướng sĩ trễ biếng, như thế quân địch không phòng bị, ta có thể âm thầm đến đánh úp chúng.

Võ Hầu hỏi rằng: Hai quân đối mặt nhau, không biết tướng địch như thế nào, ta muốn dò xét tướng của họ, phải dùng phương pháp nào?

Khởi đáp rằng: Nếu mệnh lệnh tầm thường mà tỏ ra dũng cảm, tướng địch tỏ ra coi thường sĩ tốt tinh nhuệ của ta như thế là địch muốn bỏ chạy chớ không muốn đánh chiếm.

Nếu ta thấy địch đi tới, kẻ ngồi người đứng, chính pháp của họ chỉ cốt để trị yên, họ trốn chạy làm ra vẻ không bằng ta, lại thấy điều lợi mà làm như không hay biết gì, tướng địch như thế đáng gọi là tướng mưu trí, không nên đánh nhau với họ.

Nếu quân địch huyên náo, cờ xí rối loạn, sĩ tốt muốn đi thì đi, muốn dừng thì dừng, binh đội tự do đi ngang đi dọc không có khuôn phép, khi trốn chạy thì lo rằng không kịp, khi thấy lợi thì lo không chiếm được, đó là hạng tướng ngu ngốc, dù có nhiều quân, ta cũng vẫn đánh bại chúng được.

 Thiên thứ  5: ỨNG BIẾN

   Võ Hầu hỏi rằng: Xe bền người tốt, tướng dạn binh mạnh, bỗng gặp địch, sĩ tốt rối loạn mất hàng ngũ, bấy giờ phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Theo phép đánh thì ban ngày phất cờ, xí, phan để làm hiệu lệnh, ban đêm dùng chiêng, trống, kèn, sáo để làm hiệu lệnh; phất qua trái thì đi qua trái, phất qua phải thì đi qua phải, đánh trống thì tiến tới, đánh chiêng thì dừng lại; kèn thổi một lần thì đi, lần thứ hai thì họp lại; ai trái lệnh thì chem., ba quân phải sợ uy, sĩ tốt phải tuân mệnh, như thế thì ta đánh, quân địch không còn mạnh với ta được, trận địch không còn vững chắc với ta được.

Võ Hầu hỏi rằng: Nếu địch đông, ta ít, phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Ở đất dễ ta tránh địch, ở đất kẹt ta đón chúng. Cho nên nói rằng:

– Lấy một đánh mười, không đâu tốt bằng đất kẹt;

– Lấy mười đánh trăm, không đâu tốt bằng đất hiểm;

–  Lấy ngàn đánh muôn, không đâu tốt bằng đất khó.

Nay ta chỉ có ít sĩ tốt nhưng thình lình ta đánh chuông, nổi trống, thì ở nơi đường kẹt dù có đông quân đi nữa, chúng cũng không khỏi kinh động, Cho nên có nói rằng:

–  Dùng quân đông, cần đất dễ;

–  Dùng quân ít cần đất hiểm.

Võ Hầu hỏi rằng: Địch có quân đông, đã mạnh lại dạn, dựa vào nơi hiểm trở, nên phải có núi bên trái có sông, hào sâu thành cao, dùng nỏ mạnh để giữ kỹ, lui về như núi dời, tiến tới như gió mưa, lương thực lại nhiều, ta khó mà cầm cự lâu dài với họ, phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Việc vua hỏi thật là quan trọng! Trong trường hợp ấy không thể dùng sức xe ngựa mà dùng mưu kế của thánh nhân. Thường nên dùng ngàn cỗ xe, một vạn quân kị, dùng quân đi bộ thêm vào, chia ra thành năm đạo quân, mỗi đạo quân đi một đường. Bởi vì năm đạo quân đi năm đường khác nhau nên quân địch hồ nghi không biết ta sẽ đánh vào nơi nào. Nếu địch giữ kỹ, lo cũng cố binh đội, ta phải cho gián điệp đến dò xét cách sắp đặt của họ. Hoặc họ nghe lời ta rút quân mà đi; hoặc họ không nghe lời ta, chém sứ đốt thư, thì chia ra năm đạo mà tiến đánh, đánh thắng thì đừng đuổi theo định, không thắng thì lui về gấp làm ra vẻ bỏ trốn; nếu địch không nghi ngờ mà yên lòng theo ta để đánh gấp, thì ta cho một đạo quân chận đầu, một đạo quân chặn đuôi, rồi cho hai đạo quân ngầm tán quân ra hai phía trái và phải đánh úp vào nơi chúng đóng binh, năm đạo quân cùng đánh, ắt sẽ đươc thắng lợi, đó là phép đánh quân mạnh.

Võ Hầu hỏi rằng: Địch đến gần bức bách ta, ta muốn bỏ đi để tránh chúng mà không có đường, quân ta hết sức sợ hãi, bấy giờ phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Phép đối phó với chúng là: Nếu ta nhiều quân mà chúng ít quân thì ta chia quân ra đánh để đè bẹp chúng; nếu chúng đông quân còn ta ít quân, thì ta theo một hướng nhất định mà đánh chúng, cứ đánh riết đừng cho lơi lỏng, như thế dù chúng đông quân cũng phải thua ta.

Võ Hầu hỏi rằng: Nếu gặp địch ở chốn hang, lạch, ở chung quanh có nhiều nơi hiểm trở, địch nhiều quân còn ta ít quân, phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Ở các chốn gò, đồi, rừng, hang, núi cao, đầm rộng, nên đi mau cho qua khỏi, chớ nên nương tựa vào đó. Nếu tại chốn núi cao hang sâu, thình lình gặp địch, ta ắt hẳn trước hết đánh trống reo hò mà xông vào đánh chúng, đem cung nỏ ra trước, vừa bắn vừa bắt chúng, hễ xét thấy chúng rối loạn thì đánh gấp chớ nên nghi ngại gì cả.

Võ Hầu hỏi rằng: Ở bên trái và bên phải đều có núi cao , ở giữa đất rất chật hẹp, bỗng ta gặp quân địch, muốn đánh chúng mà không dám, muốn tránh chúng mà không được, hỏi phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Đó là trường hợp đánh trong hang núi, tuy nhiều quân cũng vô ích, một ít sĩ tốt tài giỏi của ta cũng có thể đối phó ngang sức với quân địch, ta cho binh mạnh lẹ chân đi trước, cho xe, ngựa nấp ở bốn phía, rồi rút cánh xa địch vài dặm, địch không thấy binh xe ngựa ấy của ta, ắt hẵn bày trận giữ vững, không dám lui tới. Bấy giờ ta mới giăng bày cờ xí ra, đi ra khỏi núi mà đóng dinh, như thế địch phải sợ ta: ta liền đem xe ngựa khiêu chiến, đánh riết đừng cho địch nghỉ ngơi, đó là phép đánh trong hang.

Võ Hầu hỏi rằng: Ta và địch gặp nhau tại chỗ đầm lầy nước lớn, nghiêng bánh ngập càng, hoặc là nay nước cạn, xe ngựa hay thuyền đò, đều không dùng được, tới lui chẳng được, bấy giờ phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng; Đó là trường hợp đánh trước tiên, không dùng xe ngựa được, phải dẹp vào một bên. Hãy leo cao nhìn bốn phía để biết hình thế nước như thế nào, xem kỹ vùng nước rộng hẹp sâu cạn như thế nào, rồi sau mới lập mưu kế để chiến thắng. Nếu địch vượt nước, ta chờ địch qua nửa chừng rồi là đánh chúng.

Võ Hầu hỏi rằng: Trời mưa dầm lâu ngày, xe ngựa bị kẹt không dời chuyển được, bốn phía đều bị bao vây, ba quân sợ hãi, phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Về phép dừng xe, trời mưa ẩm thấp thì nghỉ, trời nắng khô ráo thì dừng, quý nơi cao mà chê nơi thấp. Khi dừng xe nặng, đi đứng đều phải tuân theo đường sá, địch dấy binh ắt hẳn sẽ đuổi theo dấu bánh xe.

Võ Hầu hỏi rằng: Giặc dữ thình lình kéo đến, chiếm đồng ruộng của ta, bắt trâu dê của ta, phải làm thế nào?

Khởi đáp rằng: Giặc dữ kéo đến, ắt lo lắng về cái hoàn cảnh miễn cưỡng của chúng ta, ta bèn giữ kỹ chớ đánh chúng ngay, đến chiều chúng sẽ rút lui, đùm bọc, khiêng dắt nhiều đồ vật; bấy giờ chúng phải sợ sệt, muốn lui về cho gấp, như thế chúng không có lòng chuyên chú chiến đấu, ta bèn đuổi theo mà đánh thì quân địch phải tan vỡ.

Ngô Tử nói rằng: Phép đánh địch vây thành là sau khi hạ được thành ấp, ta vào chiếm cung phủ, sắp đặt lộc trật (tổ chức việc cai trị), tịch thu khí vật của họ; quân ta đến chỗ nào, cấm chúng không được chặt cây, phá nhà, lấy lúa gạo, giết gia súc, đốt kho chứa trữ, để tỏ cho dân chúng rằng quân ta không có lòng tàn nhẫn; bên địch có ai xin ra hàng, ta cũng bằng lòng cho hàng và an ủi họ.

 Thiên thứ 6: KHÍCH LỆ SĨ TỐT

   Võ Hầu hỏi rằng: Thưởng phạt nghiêm minh, riêng việc ấy có đủ để chiến thắng không?

 Khởi đáp rằng: Về việc nghiêm minh, hạ thần không dáp cho rằng mình biết đủ hết, tuy nhiên chớ nên trông cậy vào đó. Ban bố hiệu lệnh mà dân thích nghe, dấy động binh mã mà dân ham đánh, đem ra chỗ chiến trường đầu tên mũi giáo mà dân vui lòng liều chết, đó là ba điều mà dân chúa có thể trông cậy.

Võ Hầu hỏi: Muốn được như thế phải làm thế nào?

Khởi đáp: Nhà vua nên cất nhắc những người có công trạng để họ hưởng lộc và khuyến khích những kẻ vô công.

Bấy giờ Võ Hầu sắp ngồi tại miếu đình ba hạng khách tiệc:

–  Các quan đại phu, các người có công đầu được ngồi chiếu ăn hàng đầu, được đãi thức ăn uống bậc nhất, thịt tế bậc nhất;

–  Các người có công kém hơn được ngồi chiếu hàng giữa, được đãi kém hơn;

–  Các người không công được ngồi chiếu ăn hàng sau, không được đãi các thức thượng phẩm.

Tất cả ăn uống xong rồi đi ra. Lại ban thưởng cho cha mẹ, vợ con của các kẻ có công ngay ngoài cửa miếu đường, cũng bằng theo công trạng mà đãi cao thấp khác nhau.

Đối với nhà nào có người chết trận, hàng năm sai sứ giả đến an ủi và ban thưởng cho cha mẹ, để tỏ lòng không quên công lao.

Thi hành việc thưởng công ấp được ba năm thì gặp lúc nước tầng dấy binh xâm phậm đất Tây Hà, sĩ tốt nước Nguỵ nghe được tin ấy, không đợi lệnh trên sai khiến mà đã mặc áo giáp, đội mũ trụ rang sức đánh giặc, số người ấy lên tới vạn người.

Võ Hầu triệu Ngô Khởi đến hỏi rằng: Lời dạy của ngài ngày trước bây giờ đã thi hành được rồi!

Khởi đáp rằng: Hạ thần được nghe rằng người ta có điều hay điều dở, khí có khi thịnh khi suy, xin nhà vua hãy giao cho thần năm vạn kẻ không công, thần xin dẫn họ đi đánh giặc, nếu lỡ ra mà không thắng, thì để cho chư hầu chê cười, và chịu mất quyền hành giữa thiên hạ.Nay khiến một tên tử tù nấp ở nơi đồng hoang, và cho ngàn người theo đuổi nó, thì nó không khỏi trở nên dữ tợn như chim kiêu, như chó sói, bởi có sao? Bởi nó sợ người ta hành động hung dữ mà hại nó vậy. Đó là một người liều mạng đủ khiến cho ngàn người phải sợ hãi. Nay hạ thần lấy năm vạn quân mà làm một tên tử tù để dẫn quân ấy đi đánh giặc, chắc chắn là giặc khó địch lại ta.

Võ Hầu nghe lời, thêm vào năm trăm cỗ xe, ba ngàn quân kị, mà phá được năm mươi vạn quân Tần, đó là nhờ khuyến khích sĩ tốt lập công vậy. Một ngày trước khi giao chiến, Ngô Khởi ban lệnh xuống ba quân nói rằng: Các sĩ tốt của ta đang bị xe ngựa và lính bộ của địch đón đánh, nếu xe của ta không bắt được xe của địch, lính kị của ta không bắt được lính kị của địch, lính bộ của ta không bắt được lính kị của địch, dù có phá được địch cũng đều không có công trạng gì cả. Cho nên đến ngày đánh, mệnh lệnh không rắc rối mà uy vũ làm rung động tất cả thiên hạ.

(Trích THẬP NHỊ BINH THƯ).

Phần chia sẽ tiếp theo, tôi xin đăng tiếp TƯ MÃ BINH PHÁP của TƯ MÃ ĐIỀN NHƯƠNG NHƯ.

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu (e-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com)

BINH PHÁP NGÔ TỬ: THƯỢNG QUYỂN (NGÔ KHỞI)

Đây là phần THƯỢNG QUYỂN trong BINH PHÁP NGÔ TỬ thuộc bộ VŨ KINH THẤT THƯ của NGÔ KHỞI.

Ngô Khởi (吴起)

Ngô Khởi (吴起)

Ngô Khởi sống thời Chiến Quốc sinh năm nào không rõ và mất năm 381 trước Công nguyên, sau Ngũ Tử TưTôn Vũ.

– Ngô Khởi từng làm đại tướng ở nước Lỗ, nước Ngụy và làm tướng quốc ở nước Sở. Do bị ghen ghét tài năng và những cải cách của ông ở nước Sở đụng chạm dến quyền lợi của giai cấp quí tộc thuộc dòng dõi vua chúa nhiều đời nên ông bị hãm hại ở nước Sở.

– Ngô Khởi là một nhà quân sư nổi tiếng, nhà chính trị, nhà cải cách lớn thời Chiến quốc. Khi ông nắm quyền ở nước nào đều làm cho nước đó trở nên cường thịnh, mở mang bờ cõi, các nước khác không dám đến xâm lược.

– Tư tưởng về nghệ thuật quân sự của ông (bộ binh pháp Ngô Tử) rất có giá trị, lá  một trong 7 bộ binh pháp cổ (VŨ KINH THẤT THƯ) nổi tiếng của Trung Quốc.

THƯỢNG QUYỂN

Thiên thứ 1: MƯU ĐỒ VIỆC NƯỚC

  Ngô Tử phục sức theo lối nhà nho đến yết kiến Nguỵ Văn Hầu để bàn về việc binh.

 Văn Hầu nói: “Quả nhân không thích việc quân lữ.

Khởi đáp: “Hạ thần nhân vì dò xét xác việc sâu kín, theo dõi các việc từ xưa đến nay, sao nhà vua lại nói những lời trái với lòng mình? Nay nhà vua suốt bốn mùa đều khiến giết trâu bò để lột da đem thuộc, lấy sơn đỏ phết ở ngoài, vẽ những hình xanh đỏ, dùng những da tê, da voi bóng láng, nếu dùng da ấy để mặc vào mùa đông thì không được ấm, mặc vào mùa hè thì không được mát; Vua khiến đặt rèn kích dài hai trượng bốn thước, kích ngắn một trượng hai thước; Vua khiến đặt làm bọc da che bít các cửa, bánh và trục rất thô kệt, lấy mắt để xem thì không được đẹp, cưỡi để đi xem ruộng thì không được nhẹ, không biết vua có thể nào dùng những thứ ấy mà được yên lòng chăng?

Nên làm như thế để chuẩn bị, tới thì danh, hư thì giữ mà chẳng cần đem dùng những thứ ấy cho đúng mực, điều ấy có thể ví như đem gà con đang ấp để đấu với chồn cao, đem cho con đang bú để khêu chọc cọp dữ, tuy là có lòng chiến đấu nhưng thực đưa vào chỗ chết vậy!

Ngày xưa vua họ Thừa Tang chỉ lo tu tức àm phế bỏ việc võ bị cho nên nước bị huỷ diệt, vua họ Hữu Hổ cậy đông ưa mạnh nên xã tắc phải táng vong. Nhà vua sáng suốt xét việc ấy, ắt bên trong phải lo trau dồi văn đức, bên ngoài lo sửa sang việc võ bị. Sức mạnh ngang với địch mà không tiến được thì đáng gọi là nghĩa dũng! Cho đến khi thấy chết thây đã cứng đơ mới buồn thương thì không đáng gọi là nhân ái.

Nhân bởi đó, Văn Hầu tự tay mình trải chiếu, phu nhân bưng chiến mời Ngô Khởi uống rượu tại miếu đường, lập khởi làm đại tướng trấn thủ Tây Hà, đánh nhau với chư hầu bảy mươi sáu trận, toàn thắng được sáu mươi tư trận, còn dư lại thì hoà nhau, mở rộng đất bốn phía, giành lấy ngàn dặm đất, tất cả đều là công của Khởi cả.

Ngô Tử nói: Ngày xưa các bậc vua chúa mưu đồ việc quốc gia, ắt trước hết phải dạy dỗ trăm họ, gần giữ muôn dân.

Có bốn mối bất hoà:

– Trong nước không hoà hợp thì đừng ra quân;

– Trong nước không hoà hợp thì đừng bày trận;

– Trong nước không hoà hợp thì đừng tiến đánh;

–  Trong khi đánh không hoà hợp thì không thể quyết thắng.

Bởi thế cho nên bậc vua chúa có đạo lí, nếu muốn sử dụng dân chúng, thì trước hết phải hoà hợp lòng dân rồi sau mới làm được việc lớn. Không dám tin cậy vào mưu kế của riêng mình, ắt phải cáo trước với Trời Đất và tổ tiên nơi tổ miếu, xem việc lành dữ bày ra ở mu rùa coi them thời trời, nếu đều tốt lành cả thì sau mới dấy binh được.

Người dân liền biết nhà vua thương xót mạng sống của họ, buồn tiếc về sự chết choc của họ, nếu được như thế thì bề trên và người dưới cũng gặp hoạn nạn với nhau thì sĩ tốt sẽ cho rằng tiến tới chỗ chết là vinh, lui về cầu sống là nhục.

Ngô Tử nói:

–  Đạo là trở về gốc;

– Nghĩa là làm việc, lập công;

–  Mưu là lìa bỏ điều hại, chạy tới điều lợi.

–  Việc trọng yếu là bảo toàn sự nghiệp giữ gìn sự thành công.

Nếu hành động không hợp đạo, xử sự không hợp nghĩa mà xử sự ra vẻ ta đây là to hơn, cao sang, ắt là phải gặp tai hoạ, bởi thế thánh nhân yên dân bằng đạo lí, trị dân bằng chính nghĩa, sai khiến dân bằng nghi lễ, vỗ về dân bằng nhân ái. Bốn đức tính ấy được trau dồi thì nước nhà hưng thịnh, bị phế bỏ đi thì nước nhà suy vong. Cho nên vua Thành Thang đánh vua Kiệt mà dân nhà hạ vui mừng, vua Võ Vương đời Chu đánh vua Trụ mà dân nhà Ân không cho là trái lẽ. Đó là nhờ khởi binh thuận theo Trời và Người nên mới được như thế.

Ngô Tử nói: Phàm chế định việc nước, sửa trị việc quân ắt là phải lấy lễ nghi để dạy dân, lấy nghĩa vụ để khuyến khích dân, khiến cho người dân biết xấu hổ. Con người ta biết xấu hổ, hễ nhiều làm là đánh, ít làm là giữ; Nhưng:

Đánh mà thắng được là dễ;

Giữ mà thắng được là khó;

Cho nên mới nói rằng: Giữa các nước đánh nhau trong thiên hạ:

– Ai thắng năm lần thì gặp tai hoạ;

– Ai thắng bốn lần thì chịu tệ hại;

– Ai thắng ba lần thì làm bá;

– Ai thắng hai lần thì làm vương;

–  Ai thắng một lần thì làm đế.

Thắng nhiều lần mà chiếm được thiên hạ là trường hợp ít có; thắng nhiều lần mà mất thiên hạ là trường hợp thường thấy.

Ngô Tử nói: Phàm việc dấy binh mã có năm cớ:

– Thứ nhất là vì tranh danh;

– Thứ hai là vì tranh lợi;

– Thứ ba là vì chứa ác;

– Thứ tư là vì nội loạn;

–  Thứ năm là vì đói kém;

Binh lại có năm danh hiệu khác nhau:

– Thứ nhất là nghĩa binh (binh nghĩa hiệp)

– Thứ hai là cường binh (binh mạnh)

– Thứ ba là cương binh (binh cứng)

–  Thứ tư là bạo binh (binh hung dữ)

–  Thứ năm là nghịch binh (binh trái ngược)

–  Ngăn chặn việc bạo ác, cứu nước nhà trong cơn loạn lạc, đó gọi là nghĩa;

–  Cậy đông để đánh người gọi là mạnh;

–  Nhân cơn giận mà dấy binh gọi là cứng;

–  Bỏ lễ nghĩa mà tham lợi gọi là hung dữ;

–  Khi nước loạn, người mệt mà dấy binh đánh người, gọi là trái lẽ.

Năm loại binh ấy đều có phép khắc phục.

– Lấy gặp nghĩa binh thì lấy lễ nghĩa mà khắc phục họ;

– Nếu gặp cường binh thì lấy sự khiêm cung mà khắc phục họ;

– Nếu gặp cương binh thì lấy sự từ tốn mà khắc phục họ;

– Nếu gặp bạo binh thì dùng cách đánh lừa mà khắc phục họ;

– Nếu gặp nghịch binh thì dùng cơ quyền mà khắc phục họ.

Võ Hầu hỏi rằng: Xin được nghe về phép trị binh nuôi người, giữ nước.

Khởi đáp rằng: Ngày xưa bậc quân vương sáng suốt ắt phải lo giữ gìn lễ chế giữa vua và tôi, lo trau dồi nghi thức giữa người trên và kẻ dưới, vỗ về trăm họ, gom trị dân chúng, chiếu theo phong tục mà giao huấn, tìm mời các bậc lương thiện tài năng để phòng bị cho khỏi sai lầm.

Ngày xưa, Tề Hoàn Công chiêu mộ triệu tập được bón văn sĩ tốt mà được thoả chí. Tần Mậu Công đem ba vạn sĩ tốt ra hãm trận mà khuất phục được các lân bang thù địch. Cho nên làm vua một cường quốc ắt phải nuôi người.

–  Nếu có những kẻ can đảm, mạnh mẽ thì gom họ lại thành một tốp.

–  Nếu có những kẻ hăng hái tiến đánh, cố hết sức để bày tỏ lòng trung dũng thì gom họ lại thành một tốp.

–  Nếu có những kẻ có tài trèo cao, vượt xa, lẹ chân chạy giỏi thì gom họ lại thành một tốp;

–  Nếu có những tôi tớ cũ của nhà vua bị mất chức, nay muốn lập công với bề trên thì gom họ lại thành một tốp;

–  Nếu có những kẻ bỏ thành không giữ, nay muốn rửa vết nhơ ấy thì gom họ lại thành một tốp.

Đó là năm phép để kén chọn quân tinh nhuệ. Kiếm được ba ngàn người như thế, ở trong đánh ra có thể phá vỡ vòng vây, ở ngoài đánh vào có thể hạ thành.

Võ Hầu hỏi rằng: Xin được nghe về phép lập trận cho được vững vàng, phép giữ gìn cho được chắc chắn, phép đánh phá cho được thắng lợi.

Khởi đáp rằng: Nhà vua đứng xem thì còn có thể hiểu cách thức được, há chỉ nghe giảng mà hiểu được sao?

Nếu vua đăt người hiền tài ở trên, kẻ ngu xuẩn ở dưới thì có thể bày trận vững vàng;

Nếu nhân dân sống yên ổn với nhà ruộng của họ, thân yêu quan lại coi sóc họ, thì có thể giữ gìn chắc chắn;

Nếu trăm họ co là vua ta phải lẽ, địch quốc trái lẽ, thì có thể đánh phá thắng lợi.

Thường khi Võ Hầu bàn luận việc nước, mà thấy các quan trong triều không ai thông thái bằng mình được, thì lúc bãi triều vua tỏ vẻ vui mừng.

Khởi tiến lên nói rằng: Ngày xưa, thường khi vua Sở Trang Vương bàn luận việc nước,mà thấy các quan trong triều không ai thông thái bằng mình thì lúc bãi triều Vua tỏ vẻ lo buồn. Thân Công hỏi vua rằng: Vua có vẻ lo buồn, vì sao thế? Vua đáp: Quả nhân nghe rằng đời không bao giờ hết thánh nhân, nước không bao giờ thiếu hiền tài, ai được các bậc ấy làm thầy là người ấy làm Vương, ai được các bậc ấy làm bạn thì người ấy làm Bá. Nay quả nhân là người bất tài, mà các quan trong triều không ai hơn được quả nhân, đó là điều nguy hại của nước Sở vậy vào trường hợp Sở Trang Vương lo buồn mà nhà vua lại vui mừng thì hạ thần phải thầm lo sợ vậy!

Nghe nói thế, Võ Hầu bèn có sắc khen.

Thiên thứ 2: TRÙ LIỆU ĐỐI PHÓ VỚI QUÂN ĐỊCH.

    Võ Hầu nói với Ngô Khởi rằng: Nay nước Tần hiếp phía Tây nước ta, nước Sở bịt phía Nam nước ta, nước Triệu ép phía Bắc nước ta, nước Tề lấn phía Đông nước ta, nước Yên chặn phía sau nước ta, binh sáu nước đem giữ chặt bốn phía, ta bị kẹt vào thế phá bất tiện, biết lo tính làm sao đây?

Khởi đáp rằng: Phép giữ nước nhà là trước hết phải lấy sự phòng bị làm quý. Nay vua biết phòng bị thì tai hoạ còn xa xăm chưa thể tới được. Hạ thần xin luận về phong tục, tính tình của người dân sáu nước:

Nước Tề bày trận cẩn thận mà không vững bền;

Nước Tần bày trận rời rạc nhưng biết tự đánh;

Nước Sở bày trận chỉnh tề nhưng không được lâu;

Nước Yên bày trận giữ thế thủ nhưng không bỏ chạy;

Tam Tấn bày trận có trật tự nhưng không vận dụng.

Dân Tề tính khí cứng cỏi, nước giàu, vua tôi kiêu căng xa xỉ, nhưng việc săn sóc lê dân rất sơ sài, nền chính trị khoan dung nhưng bổng lộc phân chia không đều, một trận mà hai lòng, phía trước cẩn thận mà phía sau khinh suất, cho nên bày trận cẩn thận mà không vững bền. Phép đánh họ ắt là chia quân ra ba phần mà đánh vào hai hông phải và trái, bám sát theo họ thì có thể phá trận của họ được.

Dân Tần tính khí mạnh mẽ, đất đai hiểm trở nên chính trị nghiêm khắc, sự thưởng phạt đúng đắn, người dân không nhúng nhường, ai ai cũng có lòng chiến đấu, cho nên bày trận rời rạc mà mọi người đều biết tự đánh. Phép đánh họ là trước hết phải bày điều lợi để dẫn dụ họ, sĩ tốt tham đoạt lợi nên rời xa tướng suý, thừa dịp họ khinh suất đuổi theo làm cho ba quân rời rạc, và đặt phục binh chờ cơ hội mà đánh úp thì có thể bắt tướng suý của họ được.

Dân Sở tính khí yếu ớt, đất đai rộng rãi, nền chính trị rối loạn, dân chúng mỏi mệt, cho nên bày trận chỉnh tề nhưng không được lâu dài. Phép đánh họ là ùa đánh vào các đồn trước hết phá tan nhuệ khí của họ. Thình lình rồi đánh, rồi rút lui thật nhanh, làm cho họ khốn đốn vất vã, chớ nên giao tranh với họ, làm như thế thì có thể đánh bại quân họ được.

Dân Yên tính khí thành thực, cẩn thận, thích sự nghĩa dũng, ít mưu mô dối trá, cho nên cố giữ mà không bỏ chạy. Phép đánh họ là đến sát bức bách họ, đánh phá họ rồi bỏ đi xa, cho quân kị chạy vòng ra phía sau họ thật nhanh, làm cho bên địch trên thì nghi ngờ, dưới thì sợ hãi, phải cận thận đề phòng chiến xa và quân kị của ta, như thế tướng của họ phải né tránh ta và ta có thể chận bắt được.

Tam Tấn chính là Trung Quốc, tính tình hoà nhã, nền chính trị bình an, dân chúng đã mệt mỏi vì chiến tranh, đã tập quen việc binh bị, tướng suý bị bạc đãi, bổng lộc ít ỏi, sĩ tốt không có lòng liều chết nên tuy có trật tự mà không sử dụng được. Phép đánh họ là bày trận mà ngăn chận họ, họ đến thì ta chống cự, họ bỏ đi thì ta đuổi theo, cốt làm cho quân đội của họ mệt mỏi, đó là thế đánh.

Thế rồi, trong mỗi đội quân, ắt có những dũng sĩ, đủ sức gánh vác nhẹ nhàng, chân chạy lẹ làng như ngựa rợ Nhung, giật cờ bắt tướng đều  có đủ khả năng, nếu được hạng người như thế thì chọn riêng họ ra, thương yêu, quý mến họ, đó gọi là quân mệnh; theo công dụng của họ mà chia ra năm thứ binh: tài giỏi, mạnh mẽ, dẻo dai, mau lẹ, nuôi chí nuốt địch, đều ban them cho họ phẩm tước, để họ quyết thắng, hậu đãi cha mẹ, vợ con họ, tưởng thưởng để khuyến khích họ, trừng phạt để uy phục họ, hạng sĩ tốt ấy có thể lập trận vững bền, giữ nước lâu dài. Nếu biết suy xét điều ấy thì sức đánh của quân ta sẽ tăng gấp bội.

Võ Hầu khen là hay.

Ngô Tử nói rằng: Khi trù liệu đối địch, có tám trường hợp nên đánh ngay mà chẳng cần bói toán:

–  Thứ nhất là khi gió lớn, trời lạnh gắt, địch thức dậy sớm để dời binh, phá băng vượt nước, không ngại gian nan.

– Thứ hai là đang ngày hè nóng nực, trời trong vắt không mây, quân địch chịu đói khát rong ruổi, cốt để giành giựt ở nơi xa;

– Thứ ba là địch quân bị kẹt cứng lâu ngày ở một chỗ, lương thực hết sạch, trăm họ oán giận, nhiều kẻ bàn tán việc hoà phục mà cấp trên không ngăn cắm được.

–  Thứ tư là địch quân hết sạch tiền của lương thực, củi cỏ thì ít ỏi, trời thì nhiều mây mưa, muốn đi cướp giật để ăn mà cũng không tìm ra chổ nào;

–  Thứ năm là địch gặp cảnh sĩ tốt không nhiều, đất nước không tiện lợi, người ngựa bị bệnh tật, các nước láng giềng bốn bên không đến giúp;

–  Thứ sáu là địch gặp cảnh đường còn xa mà trời đã tối, sĩ tốt vất vả và lo sợ, mệt mỏi và chưa ăn, đang cởi giáp để nghỉ ngơi.

–  Thứ bảy là bên địch, tướng tá ăn ở lạt lẽo, nhỏ nhen, lại sĩ khinh suất, lính tráng không vững vàng, ba quân nhiều lần sợ hãi, quân đội không được giúp đỡ.

– Thứ tám là bên địch bày trận chưa hẳn hoi, dựng dinh trại chưa xong, đi ngược triền dốc, qua nơi hiểm trở, nửa ẩn nửa hiện.

Gặp những trường hợp như thế, ta nên đánh chúng mà chớ nghi ngại gì cả. Có sáu trường hợp phải tránh né địch quân mà không cần xem tốt xấu.

– Thứ nhất là địch có đất đai rộng rãi bao la, nhân dân giàu có, đông đúc;

– Thứ hai là bên địch, người trên biết thương kẻ dưới, ân huệ ban bố đầy rẫy khắp dân chúng;

– Thứ ba là bên địch, sự tưởng thưởng rất tín thực, hình phạt đúng đắn và thi hành đúng lúc;

–  Thứ tư là bên địch đánh trận thì thành công, ở nhà thì tề chỉnh, biết sử dụng người hiền năng;

–  Thứ năm là địch có quân lính đông đảo, rất tinh tường việc binh giáp;

–  Thứ sáu là địch có các lân bang bốn bên trợ giúp, có nước lớn sẵn sang cứu viện;

–  Nếu thấy rằng ta không bằng địch về các phương tiện ấy thì nên né tránh mà đừng đánh chúng, đó gọi là: “thấy dễ thì tiến, thấy khó thì lui”.

Võ Hầu hỏi rằng: Ta muốn xem tình trạng bên ngoài của địch mà biết được tình hình bên trong, xem cách chúng tiến lên mà biết rằng chúng muốn dừng lại, để quyết định sự hơn thua. Ngài có thể giảng cho ta nghe được không?

Khởi đáp rằng: Quân địch đến gần, như ra vẻ vô tư lự, cờ xí rối loạn, người ngựa ngược xuôi không ngay ngắn chỉnh tề, nếu gặp trường hợp như thế, một người bên ta có thể đánh mười người bên địch, khiến cho chúng không thể sắp đặt kịp thời đối phó với ta.

Các nước chư hầu chưa tụ hội để giúp nhau, vua tôi của họ chưa hoà hợp, hào luỹ chưa chuẩn bị xong, mệnh lệnh chưa được thi hành, ba quân huyên náo. Họ muốn tiến lên mà không được, muốn lui về mà không dám, nếu gặp trường hợp như thế, một số ít quân ta cũng có thể đạnh bại số nhiều quân địch, một trăm trận cũng không nguy hại.

Võ Hầu hỏi: Nên đánh địch vào những lúc nào?

Khởi đáp rằng: Khi dụng binh nên dò xét để biết quân địch mạnh hay yếu vào lúc nào và ở chỗ nào để đánh chúng vào lúc nguy nan;

– Quân địch đi từ xa mới tới, hàng lối chưa chỉnh tề: nên đánh chúng!

– Quân địch mới bắt đầu ăn chưa sắp đặt sẵn sang: nên đánh chúng!

– Quân địch chạy trốn: nên đánh chúng!

– Quân địch đang làm lụng khó nhọc: nên đánh chúng!

– Quân địch chưa chiếm được địa lợi: nên đánh chúng!

– Quân địch trể nải, chuẩn bị không kịp ngày giờ: nên đánh chúng!

– Quân địch vượt đường dài, mới tới chưa kịp nghỉ ngơi: nên đánh chúng!

– Tướng địch rời xa sĩ tốt: nên đánh chúng!

–  Quân địch có lòng sợ hãi: nên đánh chúng!

Gặp những trường hợp như thế, ta chọn sĩ tốt tinh nhuệ để xông tới rồi chia binh tiếp thêm vào, đánh gấp mà chớ nghi ngại gì cả.

Thiên thứ 3: TRỊ BINH

   Võ Hầu hỏi rằng: Trong phép dùng binh, cần làm việc gì trước nhất?

Khởi đáp rằng: Trước hết phải biết rõ bốn điều dễ, hai việc lớn, một điều tín thực.

Hỏi: Sao lại gọi như thế?

Đáp:  Đó là làm cho đất dễ đi bằng ngựa, ngựa dễ kéo xe, xe dễ chở người, người dễ chiến đấu.

– Biết rõ đất dễ, đất khó thì đất dễ đi bằng ngựa;

– Cung ứng cỏ rơm kịp thời, thì ngựa dễ kéo xe;

–  Mỡ và dầu trục xe dư dùng, thì xe dễ chở người;

–  Gươm giáo bén nhọn, bào giáp bền bỉ, thì người dễ chiến đấu.

–  Tiến lên thì được thưởng lớn, lui về thì bị phạt nặng;

– Thi hành tín thực

Nếu xét làm được những việc ấy thì có thể làm chủ được sự chiến thắng.

Võ Hầu hỏi rằng: Binh lấy gì làm ưu thắng?

Khởi đáp rằng: lấy trật tự làm ưu thắng.

Lại hỏi rằng: Có phải nhờ đông đảo không?

Đáp: Nếu pháp lệnh không sáng suốt, thưởng phạt không tin thực, chiêng đánh không đúng, trống đánh không tới, tuy có trăm vạn binh, dùng được ít gì?

Điều gọi là trật tự có nghĩa là ăn ở theo lễ nghi, cử động có uy vũ, tiến tới thì không ai chống cự nổi, lui về thì không ai đuổi kịp, tiến quân đánh đuổi trúng tiết, tả quân hữu quân ứng biến kịp thời theo hiệu lệnh, tuy ở thế kẹt cũng bày trận hẳn hoi, tuy tản ra mà vẫn còn hàng ngũ.

Cùng hưởng cảnh an vui với họ, cùng chịu cảnh nguy nan với họ, nên sĩ tốt luôn luôn quay quần theo ta mà không bao giờ li tán, có thể sử dụng mãi mà không bao giờ mỏi mệt, nên quân sĩ vào nơi nào thì thiên hạ không chống cự nổi, đó gọi là binh cha con.

Ngô Tử nói rằng: Theo phép hành quân, chớ nên đi đứng trái tiết, chớ nên ăn uống trái thời, chớ làm kiệt sức người và ngựa, đó là ba điều kiện để sĩ tốt dễ thi hành lệnh trên. Sĩ tốt thi hành lệnh trên, đó là nguồn gốc của sự trị an. Nếu đi đứng không đúng tiết, ăn uống không đúng thời, người ngựa mệt mõi không được nghỉ ngơi, đó là nguyên nhân làm cho sĩ tốt không thi hành lệnh trên. Lệnh trên bị khinh rẻ thì khi ở yên bình sẽ rối loạn, khi đánh giặc binh sẽ thất bại.

Ngô tử nói rằng: Khi binh ở chiến trường, đừng vào đất chết, hễ liều chết thì được sống, cầu sống thì phải chết; người tướng giỏi cầm binh cũng giống như ngồi trong thuyền thủng đáy bị nước rỉ vào, hoặc đang nằm ấm trong nhà mà chạy, việc xảy ra thật là cấp bách khiến cho người có trí cũng không kịp mưu tính được gì, kẻ dũng cảm cũng không kịp nổi giận, phải như thế mới có thể ứng địch được. Cho nên có nói rằng: Trong các điều hại của sự dùng binh, sự do dự là nguy hại nhất; tai họa của ba quân sinh ra do sự hồ nghi.

Ngô Tử nói rằng: Người ta thường chết ở chỗ mà mình bất lực, thường thất bại ở chỗ bất tiện cho mình. Cho nên trong phép dùng binh, sự răn dạy phải đứng đầu.

– Một người học đánh, dạy lại thành mười người biết đánh;

– Mười người học đánh, dạy lại thành trăm người biết đánh;

– Trăm người học đánh, dạy lại thành ngàn người biết đánh;

– Ngàn người học đánh, dạy lại thành muôn người biết đánh;

– Muôn người học đánh, dạy lại thành ba quân biết đánh;

– Lấy ta ở gần chờ đánh địch từ xa tới;

– Lấy ta nhàn chờ đanh địch mệt;

– Lấy ta no chờ đánh địch đói;

– Binh ta đang bày viên trận, ta buộc đổi thành phương trận;

– Binh ta đang ngồi, ta buộc đứng dậy đi;

– Binh ta đang đi, ta buộc đứng lại;

– Binh ta đang đi qua trái, ta buộc đi qua phải;

– Binh ta đang quay qua trước, ta buộc đi quay qua sau;

– Binh ta đang phân tán, ta buộc tụ hợp lại;

– Binh ta đang kế hợp, ta buộc giải tán.

Mỗi việc biến dịch ấy đều phải tập tành cho quen thuộc rồi mới sử dụng binh ấy được, đó là phận sự của tướng súy.

Ngô Tử nói rằng: Theo phép dạy đánh thì:

– Người thấp cầm giáo kích;

– Người cao cầm cung nỏ;

– Người mạnh cầm cờ xí;

– Người dạn cầm chiêng trống;

– Người yếu làm việc vặt vãnh và nấu ăn;

– Người trí làm chủ mưu;

– Làng xóm nương nhau;

– Các đội thập và đội ngũ che chở nhau;

– Nghe một tiếng trống thì sắp binh chỉnh tề;

– Nghe hai tiếng trống thì tập trận;

– Nghe ba tiếng trống thì đi ăn;

– Nghe bốn tiếng trống thì làm việc nghiêm chỉnh;

– Nghe năm tiếng trống thì vào hàng;

– Nghe trống và chiêng cùng đánh một lần rồi mới đưa cờ lên.

Võ Hầu hỏi rằng: Ba quân đi đứng há phải có phép tắc sao?

Khởi đáp: Không thể chống với thiên táo (bếp trời), không thể chống với long đầu (đầu rồng). Thiên táo là miệng hang lớn, long đầu là đầu núi lớn, ắt là bên trái có Thanh long, bên phải có Bạch hổ, trước mặt có Chu tước, sau lưng có Huyền Vũ.

Người ở trên được thế chủ động, người ở dưới phải tuân theo thế bị động.

Lúc sắp đánh, phải xem xét gió thổi theo hướng nào. Nếu gió thổi thuận chiều cho ta, thì ta hô lớn và đánh theo chiều gió; nếu gió thổi ngược chiều với ta, thì ta lập vững bền để chờ đánh địch.

Võ Hầu hỏi rằng: Về việc nuôi người và ngựa, phải cho ở chỗ yên ổn, dễ kiếm cỏ, nước, lo liệu việc no đói của chúng cho có chừng mực. Về mùa đông thì cho ở chuồng ấm, về mùa hè thì cho ở chuồng mát, cắt bớt lông bườm để cho thông xuống bốn phía, bịt kín mắt và tai để ngựa khỏi sợ hãi, tập cho quen chạy mau, tập cho quen đi đứng đúng phép, người và ngựa phải gần gũi quen thuộc nhau rồi mới sử dụng được. Các dụng cụ về ngựa xe là yên, cương, dàm và hàm khớp, phải lo cho đủ đầy, bền chắc. Thường thường thì ngựa không trước thì sau, đều bị tổn hại; không tổn hại vì đói thì cũng bị tổn hại vì no. Trời đã tối mà đường còn xa, thì nhiều khi thà để cho người mệt mà cẩn thận chớ cho ngựa mệt, nhờ đó mà ngựa có dư sức để phòng bị trường hợp địch đánh úp ta. Hiểu rõ việc ấy thì tha hồ dọc ngang giữa thiên hạ.

(Trích THẬP NHỊ BINH THƯ)

Phần sau tôi sẽ chia sẽ tiếp phần HẠ QUYỂN của bộ binh pháp này.

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu  (e-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com)

 

 

 

 

BINH PHÁP LỤC THAO: KHUYỂN THAO (KHƯƠNG TỬ NHA)

Đây là quyển KHUYỂN THAO (LUYỆN SĨ) thuộc BINH PHÁP LỤC THAO của Khương Tử Nha trong Bộ VŨ KINH THẤT THƯ.

KHUYỂN THAO (犬韬)

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ 1: PHÂN BINH

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Các vua cầm ba quân đóng ở nhiều nơi, nếu muốn tập hợp quân lại để tuyên thệ và thưởng phạt thì phải làm cách nào?”

Thái Công đáp rằng: “Thường phép dùng binh trong ba quân thì: Đại tướng phải địch trước chiến địa và ngày giao chiến rồi mới chuyển hịch thư đến các tướng lĩnh hẹn thời hạn đánh thành vây ấp. Thông báo cho các nơi biết rõ ngày đánh trận, ấn định thời giờ cụ thể. Sau đó, đại tướng cho lệnh đóng doanh trại, quét dọn sạch sẽ rồi đứng trước viên môn chờ đợi các tướng lĩnh đến để theo dõi việc thực hiện giờ giấc của họ. Người đến trước giờ đã định thì khen thưởng, kẻ đến sau giờ ấn định thì xử chém. Như thế ba quân ở gần, xa đều khẩn trương đến dự, cùng nhau sống mái với quân thù”.

Thiên thứ 2: VŨ PHONG

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Phàm việc dùng binh, điều cốt yếu là phải có vũ xa, kiêu kị, tuyển chọn từng trận mà đánh, thấy có thể đánh được thì đánh. Vậy thế nào là có thể đánh được?”.

 Thái Công đáp: “Phàm muốn đánh thì nên xem xét rõ ràng 14 biến động của địch. Thấy rõ được việc biến thì đánh ngay, như thế địch sẽ thất bại”.

Võ Vương nói: “Có thể cho nghe 14 biến động đó chăng?”

Thái Công đáp:

“ – Mới tụ tập thì có thể đánh.

– Người và ngựa chưa ăn thì có thể đánh.

–  Thiên thời bất thuận thì có thể đánh.

–  Chưa nắm vững địa hình thì có thể đánh.

– Bỏ chạy thì có thể đánh.

–  Không phòng bị thì có thể đánh.

– Mỏi mệt thì có thể đánh.

– Tướng lìa xa sĩ tốt thì có thể đánh.

– Vừa vượt qua đoạn đường dài thì có thể đánh.

–  Đang vượt sông thì có thể đánh.

–  Đang bối rối thì có thể đánh.

– Đang đi trên đường hẹp có thể đánh, ngăn trở khó khăn thì có thể đánh.

–  Đang rối loạn thì có thể đánh.

– Lòng dạ hoang mang thì có thể đánh”.

Thiên thứ 3: LUYỆN SĨ

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Huấn luyện quân lính như thế nào?”.

Thái Công đáp: “Trong quân ngũ có hạng người dũng cảm, mạnh khoẻ không sợ chết và vui vẻ khi bị thương, xếp hạng người này vào một tốt gọi là lính dám chém giết.

– Có hạng người nhuệ khí cường tráng, dũng mãnh, xông xáo, xếp hạng người này thành một tốt gọi là lính phá trận.

– Có hạng người múa kiếm dài tuyệt vời, sử dụng kiếm như múa, xếp hạng người này vào một tốt, gọi là lính anh dũng tinh nhuệ.

– Có hạng người sức lực to lớn, bền bỉ chống cự địch liên tục, có sức mạnh phá vỡ chuông trống, huỷ diệt cờ xí địch, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lĩnh dũng mãnh.

– Có hạng người vượt nổi chỗ cao, chạy được đường xa, nhẹ chân chạy giỏi, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lính nhanh như cướp.

– Có hạng người khi vương thần thất thế, quyết khôi phục để lập công, khôi phục giang sơn, xếp hạng người này lại một tốt, gọi là lính quyết chiến đấu đến cùng.

– Có hạng người là con em của các vị tướng tử trận, nên quyết trả thù cho vị tướng đó, xếp hạng người này lại một tốt, gọi là lính cảm tử.

– Có hạng người chỉ sống nương tựa và bị đày đoạ bởi kẻ khác, nên muốn nhập ngũ để nêu cao thanh danh, hạng người này xếp thành một tốt, gọi là lính khích lệ.

– Có hạng người bần cùng quẫn bách, nên phẫn nộ nguyện gia nhập quân ngũ để toại lòng hả dạ, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lính bất tử.

– Có hạng người phạm tội, nhưng đã hết hạn, giờ gia nhập quân ngũ để rửa sạch nỗi nhục, xếp hạng người này thành một tốt, gọi là lĩnh may mắn được tuyển dụng.

– Có hạng người có tài nghệ hơn người, có khả năng gánh vác đồ đạc nặng nề đi xa, hợp hạng người này thành một tốt , gọi là lính sẵn sang chờ lệnh.

Sự sắp xếp và tập luyện các hạng quân này không thể không xét kĩ”.

Thiên thứ 4: GIÁO CHIẾN

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Hợp đông đủ ba quân, nếu muốn sĩ tốt thao luyện về đạo giáo chiến thì phải làm thế nào?”.

Thái Công đáp: “Phàm thống lĩnh ba quân có hiệu lệnh của trống chiêng khiến quân sĩ chỉnh tề. Vị tướng phải nói cho quân sĩ quán triệt ba điều lệnh về thao diễn ,ăn ở và phép biến đổi của cờ xí. Phương pháp dạy chiến đấu là: Một người học đánh thành thạo thì dạy cho mười người, mười người học thành thạo rồi dạy cho trăm người, trăm người học nên thì dạy cho ngàn người. Vạn người nên thì dạy cho ba quân. Phép đại chiến khi học thành thạo thì tập hợp thành triệu người, nên có thể trở thành đại binh lập uy trong thiên hạ”.

Võ Vương nói: “Thực là hay vậy”

Thiến thứ 5: QUÂN BINH

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Lấy xe đánh với quân bộ thì một xe đương đầu nổi với mấy quân bộ, mấy quân bộ đương đầu nổi với một xe, lấy quân kị đánh với xe, thì một xe đương đầu với mấy kị, mấy kị đương đầu nổi với một xe?”

Thái Công đáp rằng: “Xe là vây cánh của quân. Xe dùng để đánh phá những trận địa kiên cố của địch và dùng làm phương tiện lúc thua chạy. Kị dùng để dò xét tình hình, xếp viện cho quân bại trận, cắt đứt đường tải lương của quân giặc. Cho nên nếu xe và kị chưa giao chiến với địch thì một xe không thể đương đầu đươc với một quân bộ. Tuy nhiên nếu quân đông lập thành trận địa thì ở vị thế dễ dàng một xe sẽ đánh được 80 quân bộ, 80quân bộ sẽ đánh được một xe. Một kị sẽ đánh được 8 quân bộ, 8 quân bộ đánh được một kị. Một xe đánh được 10 kị, 10 kị đánh được một xe. Nếu ở địa thế hiểm trở, thì một xe địch được 40 quân bộ, 40 quân bộ địch được một xe. Một kị địch được 4 quân bộ, 4 quân bộ địch được một kị. Một xe địch được 6 kị, 6 kị địch được một xe. Xe và kị là binh khí mạnh trong quân đội. 10 xe có thể đánh bại ngàn người, trăm xe đánh bại vạn người, 10 kị đánh bại trăm người, trăm kị đánh bại ngàn người. Đó là con số rât lớn”.

Võ Vương hỏi: “Số lượng sĩ quan chỉ huy xe, kị và cách bày trận phải như thế nào?”

Thái Công nói: “Số sĩ quan chỉ huy xe thì cử 5 xe đặt một trưởng trông coi, 10 xe đặt 1 lại, 50 xe đặt một suất, 100 xe đặt một Tướng. Cách đánh bằng xe nơi thế đất dễ dàng thì cứ 5 xe xếp thành một hang ngang, dài 40 bộ. khoảng cách giữa hai xe là 10 bộ, khoảng cách hai đội là 60 bộ. Đánh ở địa thế hiểm trở thì xe phải di chuyển theo đường xa. Cứ 10 xe lập thành 1 tụ, 20 xe lập thành một đôn, trước sau cách xa 20 bộ, hai bên tả hữu cách nhau 20 bộ. khoảng cách hai đội là 36 bộ, cứ 5 xe đặt một Tướng trông coi, ngang dọc cách nhau 2 dặm, khi di chuyển cần giữ nguyên vị trí. Về số lượng sĩ quan trông coi kị thì 5 kị đặt một trưởng, 10 kị đặt một lại, trăm kị đặt một suất, 200 kị đặt một Tướng trông coi. Cách đánh ở thế đất dễ dàng thì 5 kị xếp thành một hàng trước sau cách khoảng 10 bộ, tả hữu cách 2 bộ, khoảng cách 2 đội 2 bộ, 30 kị lập thành một đồn, 60 kị lập thành một bối, 10 kị đặt một lại trông coi, ngang dọc cũng cách xa 100 bộ, khi di chuyển đều phải giữ nguyên vị trí”.

Thiên thứ 6: VÕ XA SĨ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Việc tuyển xa sĩ phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Phép tuyển xa sĩ thì nên chọn người dưới 40 tuổi trở xuống, cao từ thước rưỡi trở lên, chạy nhanh có thể đuổi kịp loài ngựa, đồng thời có thể di chuyển nhanh chóng tới trước, sau, phải, trái, trên cao, dưới thấp và xoay vòng hay quấn được cờ xí trong người, có thể giương nổi loại nỏ nặng 8 thạch bắn tới trước, sau, trái, phải, mọi mặt đều tiện cho việc thực hành, được gọi là “lĩnh võ xa”. Hạng người này không thể không hậu đãi”.

Thiên thứ 7: VÕ KỊ SĨ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Việc tuyển kị sĩ phải làm như thế nào?”.

 Thái Công đáp: “Cách tuyển kị sĩ là chọn người dưới 40 tuổi cao từ 7 thước 50 trở lên, than thể tráng kiện, nhanh nhẹn hơn người. Có khả năng cưỡi ngựa bắn nỏ đi các mặt tiền, hậu, tả, hữu và xoay vòng, tiến thoái vượt qua hào rạch: leo trèo đồi núi, mạo hiểm xông vào vùng hiểm trở, ngăn được đầm rạch lớn, điều khiển được kẻ địch mạnh, nhiễu loạn được đám đông. Loại người này được gọi là “kị sĩ” không thể không hậu đãi.”

Thiên thứ 8: CHIẾN XA

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép đánh bằng chiến xa như thế nào?”

Thái Công đáp: “Quân bộ phải biết trước biến động, xe phải biết trước địa hình, kị phải biết trước đường xa lạ. Phàm tử địa của xe thì có mười và thắng địa của xe chỉ có tám mà thôi”.

Võ Vương hỏi: “Mười điều tử địa là gì?”

Thái Công đáp:

“ –  Đi được mà không về được là tử địa của xe

– Vượt được đất hiểm trở, lấn được địch mà đi xa là kiệt địa của xe.

–  Tiến dễ dàng, sau hiểm trở là khốn địa của xe.

–  Bị rơi vào vùng hiểm trở khó mà thoát ra ngoài là tuyệt địa của xe.

– Lúc xe lọt vào đầm trạch, bùn đất dính đầy xe là lao địa của xe.

–  Bên trái hiểm trở, bên phải dễ dàng, phía trên có gò đống mà xe phải leo dốc là nghịch địa của xe.

–  Lúc xe đi qua bãi ruộng cỏ mênh mông, phải vượt qua các đầm, ao sâu kín là thất địa của xe.

–  Xe ít đường di chuyển dễ dàng lại không đương đầu nổi với quân bộ là bại địa của xe.

–  Phía sau có hào lạch, bên trái có sông sâu, bên phải có đồi núi cao là hoại địa của xe

–  Xe di chuyển gặp lúc mưa dầm dề ngày đêm, mà luôn phải di chuyển, đường sá ngập lụt, vỡ lở, đằng trước không thể tiến, đằng sau không giải toả được, đó là hảm địa của xe.

Mười điều trên là tử địa của xe. Nếu tướng vụng về thường bị bắt, tướng sáng suốt sẽ tránh khỏi”.

Võ Vương hỏi: “Tám điều thắng của xe thì thế nào?”

Thái Công đáp:

“ – Phía trước phía sau trận địa địch chưa ổn định thì phải tiến công ngay.

–  Cờ xí rối loạn, người và ngựa xáo trộn thì tiến công ngay

–  Sĩ tốt chạy tán loạn, ở cả phía trước, sau, phải, trái thì phải tiến công ngay.

– Trận địa không kiên cố, sĩ tốt hai mặt trước sau dựa dẫm lẫn nhau thì tiến công ngay.

– Quân địch đi đến đằng trước thì ngờ vực, đến đằng sau thì hoảng hốt thì tiến công ngay.

–  Ba quân sợ hãi, buộc lòng nổi dậy một cách bất đắc dĩ thì tiến công ngay

–  Đánh ở địa thế dễ dàng mà trời tối, không giải vây được thì tiến công ngay.

– Quân di chuyển đường xa, nên về muộn, trời tối mới cắm trại, quân lính hoang mang thì tiến công ngay.

Tám điều trên là đất thắng của xe. Vị tướng thông suốt mười điều hại, tám điều thắng thì dù địch có dùng hàng ngàn xe, hàng vạn kị bao vây tiến công thì trong vạn trận đánh, vị tướng đó cũng sẽ chiến thắng”.

Thiên thứ 9: THIÊN KỴ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép đánh bằng chiến kị như thế nào?”.

Thái Công đáp: “Đánh bằng chiến kị thì có mười lúc thắng, chin lúc bại”.

Võ Vương hỏi: “Mười lúc thắng ra sao?”

Thái Công đáp:

“ – Lúc địch mới đến, thế trận chưa định hẵn, hai cánh quân tiền và hậu chưa hỗ trợ nhau được, ta đánh phá các chiến kị phía trước, đồng thời đánh hãm hai mặt tả hữu thì địch sẽ chạy ngay.

–  Lúc địch dàn trận đã chỉnh tề, kiên cố, sĩ tốt quyết đấu đến cùng, thì quân kị của ta phải sát cánh bên nhau, hoặc đuổi đi, hoặc đuổi lại, hành động nhanh như gió, mạnh như sấm sét, ngày cũng như đêm, thay cờ xí đổi y phục thì quân ta ắt sẽ thắng.

–  Lúc địch bố trí trận địa chưa kiên cố, sĩ tốt chưa muốn đánh thì ta lấn hai mặt tiền, hậu của chúng, đón hai mặt tả hữu mà đánh, địch sẽ hoảng sợ.

–  Lúc chiều về quân địch muốn về nghỉ ngơi, quân lính hoang mang, ta kẹp sát hai bên hông của chúng tiến đánh nhanh mặt sau, lấn chiếm cửa thành luỹ khiến địch không có lối vào, địch ắt sẽ bại ngay.

–  Lúc địch không có địa thế hiểm trở để phòng thủ kiên cố thì quân ta xâm nhập đuổi đánh chúng, cắt đứt đường tiếp tế lương thực thì quân địch sẽ bị đói.

–  Lúc ta đóng ở vị thế bằng phẳng dễ dàng, bốn mặt trông thấy địch, ta dùng xa kị để đánh phá, địch sẽ rối loạn ngay.

–  Lúc địch tháo chạy, sĩ tốt tán loạn, ta xuất binh và đánh kẹp hai bên hông chúng, hoặc chặn hai mặt tiền hậu, thì sẽ bắt được tướng địch.

–  Lúc chiều xế địch trở về, quân chúng đông nên rối loạn, ra lệnh cho 10 kị của ta lập thành đội, trăm kị hợp thành đồn, 5 xe lập thành một tụ, 10 xe hợp thành một quần, cắm cờ xí nhiều nơi, hoặc cắt đứt liên lạc giữa hai mặt tiền, hậu của chúng thì sẽ bắt sống được tướng địch.

Đó là mười lúc thắng của quân kỵ”.

Võ Vương hỏi: “Chín điều bại như thế nào?”

Thái Công đáp:

“- Phàm đánh phá địch bằng quân kị mà không thể phá trận, địch sẽ vờ thua chạy rồi dùng xa kị phản kích mặt sau của ta. Đó là bại địa của quân kị.

– Lúc đuổi theo quân địch qua vùng hiểm trở, truy kích liên tục. Địch sẽ phục ở hai bên hông ta, đồng thời cắt đứt mặt sau của ta. Đó là vi địa của quân kị.

–  Lúc có đường đi mà không lối về, không có ngõ ra, gọi là bị vây hãm vào gầm trời, dồn vào tử huyệt. Đó là tử địa của quân kị.

– Lối vào thì hẹp, lối ra thì xa, địch yếu cũng có thể đánh được ta mạnh, địch ít cũng có thể đánh được ta đông. Đó là mạt địa của quân kị.

– Hai bên tả hữu có nước, mặt trước gò lớn, mặt sau núi cao, khi đánh nhau với địch quân ta ở giữa hai dòng nước, địch ở bên ngoài và trong. Đó là gian địa của quân địch.

–  Địch cắt đường tải lương của ta, đi mà không về được. Đó là khốn địa của quân kị.

–  Khi tiến vào nơi nước đục, đầm ao, tiến thoái lưỡng nan. Đó là hoạn địa của quân kị.

–  Bên tả có mương sâu, bên hữu có đồi núi cao thấp đều như bình địa, tiến thoái đều làm mồi cho địch. Đó là hãm địa của quân kị.

Chín điều trên là tử địa của quân kị, tướng sáng suốt thì có thể thoát khỏi. Tướng u muội thì sẽ bị thảm hại vậy”.

Thiên thứ 10: CHIẾN BỘ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Nguyên tắc đánh nhau giữa bộ binh và xa kị như thế nào?”.

Thái Công đáp: Nếu bộ binh và xa kị đánh nhau thì bộ binh phải dựa vào gò đống hiểm trở, dùng binh khí dài, cung nỏ mạnh đi trước, binh khí ngắn, cung nỏ yếu đi sau, lúc tiến lúc dừng. Xa kị của địch tuy đông, nhưng khi đến đã gặp trận tuyến kiên cố và đánh nhanh ở phía sau có quân tài giỏi và cung nỏ mạnh sẵn sang chống trả”.

Võ Vương hỏi: “Ta không có gò đống, cũng không có địa thế hiểm trở, khi địch kéo nhiều quân đến, xa kị đánh kẹp hai bên hông ta, đón đánh hai mặt tiền và hậu của ta, quân ta khiếp sợ, thua chạy tán loạn thì phải làm sao?”.

Thái Công đáp rằng: “Ra lệnh cho sĩ tốt ta đóng hàng rào gỗ, chông gai, đặt đội trâu ngựa đánh xông trận bốn mặt. Khi thấy xa kị địch sắp đến thì cho quân chôn chông gai, quốc đất thành hố sâu và rộng khoảng 5 thước (gọi là lồng) vòng qua sau, rồi cho người cầm hàng rào gỗ chặn xe địch để làm luỹ. Nếu xe chúng chia làm hai theo mặt trước và mặt sau ta mà lập đồn thì quân tài giỏi và cung nỏ mạnh của ta sẵn sàng trấn thủ hai bên hông, tả và hữu. Sau đó ra lệnh cho quân ta đánh nhanh, đánh liên tục không ngừng”.

Võ Vương nói: “Thật là hay vậy”.

(Trích từ THẬP NHỊ BINH THƯ).

 

Tôi đã chia sẽ hết toàn bộ BINH PHÁP LỤC THAO (6 quyển) của Khương Tử Nha.

Trong đợt đăng tiếp, tôi xin tiếp tục với BINH PHÁP NGÔ TỬ (Phần THƯỢNG QUYỂN) của NGÔ KHỞI.

 

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu (E-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com)

 

 

 

BINH PHÁP LỤC THAO: BÁO THAO (KHƯƠNG TỬ NHA)

Đây là quyển BÁO THAO (CHIẾN THUẬT) thuộc  BINH PHÁP LỤC THAO của Khương Tử Nha  trong bộ VŨ KINH THẤT THƯ.

BÁO THAO (豹韬)

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ 1: LÂM CHIẾN

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải rừng rậm, ta và địch chia rừng ra chống giữ nhau. Ta làm thế nào để thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

 Thái Công đáp: “Cho ba quân của ta lập thành một đội, xung kích, chỗ nào tiện lợi thì đóng quân cung nỏ bên ngoài kích thuẫn ở bên trong. Chặt cây cỏ cho thật trống, để tiện đường đánh giặc của ta.

Chỗ cao cắm cờ xí, nhắc nhỡ binh sĩ cẩn thận không để cho địch biết rõ tình hình của phép đánh giặc trong rừng thì phải cho quân sử dụng mâu kích xếp thành hàng ngũ, chỗ rừng thưa cho kị binh yểm trợ, chiến xa đặt ở đàng trước, thấy tiện lợi thì đánh, thấy không có lợi thì đừng.

Ở cánh rừng hiểm trở ắt phải bố trí một đội xung kích để phòng ngừa mặt trước mặt sau, quân ta phải đánh nhanh, quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt sẽ bỏ chạy, ta cho binh sĩ luân phiên vừa đánh vừa nghỉ. Mọi người phải đi theo đội ngũ của mình, ấy là phép đánh giặc trong rừng”.

Thiên thứ 2 : ĐỘT CHIẾN

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi quân địch tiến sâu vào nước ta xâm chiếm đất đai ta, lừa bắt trâu và ngựa của ta, quân địch lại đến bao vây dưới chân thành ta, quân sĩ ta kinh hãi, nhân dân ta vì tiếc của cải nên bị địch bắt sống, như vậy làm thế nào để phòng thủ thì kiên cố mà đánh thì chắc thắng?”

Thái Công đáp: “Trường hợp này phải dùng đột binh, vì trâu ngựa không được ăn, binh sĩ hết lương thực. Nên phải đánh nhanh ở mặt trước, rồi ra lệnh cho các ấp xa xôi chọn quân sĩ tinh nhuệ đánh nhanh ở mặt sau, rồi tổ chức đánh địch ban đêm, quân ta tinh nhanh, địch tuy đông, tướng địch cũng có thể bị ta bắt sống”.

Võ Vương hỏi: “Địch chia ra ba bốn mặt hoặc tiến đánh chiếm đất đai ta, hoặc dùng quân bắt trâu ngựa ta, đại quân của địch chưa đến đầy đủ mà cho những cánh quân ô hợp bao vây chân thành ta, khiến cho ba quân ta sợ hãi, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải quan sát cẩn thận, khi quân địch đến đầy đủ thì phải chuẩn bị chu đáo mà chờ địch đến. Cách thành 4 dặm cho xây chiến lũy, chiêng trống cờ xí đều bày ở trên lũy, các đội khác đặt làm phục binh. Trên chiến lũy có đặt nhiều nỏ mạnh, cứ trăm bộ lại có một cửa đột kích, trước mỗi cửa đều có kị binh và chiến xa.

Các chiến sĩ tinh nhuệ, có sức mạnh và gan dạ mai phục một nơi. Nếu quân địch kéo đến cho khinh binh ra giao chiến rồi giả thua bỏ chạy, khi ấy ở trên thành treo cờ xí, đánh chiêng trống làm như cố thủ, quân địch cho rằng quân ta thủ thành nên bao vây, lúc đó phục binh của ta xông ra đánh ở giữa, hoặc đánh ở bên ngoài, quân ta đánh nhanh, đằng trước, hoặc đằng sau.

Quân địch dù có liều lĩnh cũng không hề chống cự nổi, kẻ nhát gan cũng không kịp bỏ chạy.

Đó gọi là đột chiếm, quân địch tuy đông, tướng địch ắt sẽ bỏ chạy”.

Võ Vương nói: “Hay lắm”

Thiên thứ 3: ĐỊCH CƯỜNG

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, quân ta và quân địch đương đầu nhau, địch đông ta ít, địch mạnh ta yếu. Nửa đêm quân địch kéo đến hoặc đánh bên trái, hoặc đanh bên phải, quân ta náo động, như vậy phải làm sao để đánh thì thắng mà thủ thì vững chắc”.

 Thái Công đáp: “Đó là quân địch uy hiếp quân ta, có lợi cho việc đánh chứ không có lợi cho việc phòng thủ. Ta phải chọn lựa binh sĩ có tài, biết sử dụng nỏ mạnh, chiến xa và cưỡi ngựa, ra quân bên trái và bên phải, rồi đánh nhanh ở đàng trước và đánh gấp ở đàng sau, hoặc đánh ở bên ngoài, hoặc đánh ở bên trong. Như vậy binh sĩ địch ắt phải rối loạn, tướng địch ắt phải sợ hãi”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch án ngữ ở phía trước ta, đánh gấp ở phía sau ta, cắt đứt đường tiến quân của cánh quân tinh nhuệ ta, chặn đứng binh sĩ tài ba của ta, khiến quân ở trong và ngoài của ta không thể liên lạc với nhau, quân ta bị rối loạn, tan tác và bỏ chạy. Binh sĩ không có tinh thần chiến đấu, tướng súy và quan quân không quyết tâm chống giữ, như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Câu hỏi của vua sáng suốt lắm! Vậy ta phải ra hiệu lệnh cho rõ ràng. Dùng những người dũng cảm tinh nhuệ và dám mạo hiểm, một người cầm đuốc, hai người đánh trống, như vậy ta sẽ biết được chỗ ở của địch. Lúc ấy ta đánh vào bên ngoài hoặc bên trong, rồi ra ám hiệu cho tắt lửa và ngừng đánh trống. Trong và ngoài hợp lực đánh thật nhanh, quân địch ắt phải thua.

Thiên thứ 4: ĐỊCH VŨ 

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu bất thần gặp quân địch đông và mạnh, chúng dùng chiến xa và kị binh bao vây bên trái và bên phải ta, quân ta đều sợ hãi bỏ chạy không thể ngăn cản được, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Như vậy gọi là bại binh rồi, phải khéo léo thì có thể thắng, nếu không khéo thì sẽ bị tiêu diệt”.

Văn Vương hỏi: “Phải làm như thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta phải bố trí lính tinh nhuệ, nỏ mạnh, chiến xa và kị binh ở bên trái và bên phải trước, sau cách nhau ba dặm. Khi quân địch đuổi ta thì cho chiến xa và kị binh xông ra đánh bên trái và bên phải. Làm như vậy quân địch ắt phải náo loạn, và quân bỏ chạy của ta cũng sẽ dừng lại.

Võ Vương hỏi: “Khi quân địch đương đầu với chiến xa và kị binh của ta, địch đông ta ít địch mạnh ta yếu, quân địch hàng ngủ chỉnh tề có trật tự và tinh nhuệ, quân ta không dám chống lại địch, như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta chọn binh sĩ tinh nhuệ dùng nỏ mạnh, mai phục bên trái và bên phải, chiến xa và kị binh đóng yên một chỗ, đợi đến khi quân địch đi qua chỗ phục binh của ta, cung nỏ bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Lúc ấy chiến xa kị binh và tinh binh tiến đánh thật nhanh hoặc đánh đằng trước địch hoặc đánh đằng sau địch.

Quân địch tuy đông nhưng tướng địch ắt bỏ chạy.

Thiên thứ 5: ĐIỂU VÂN SƠN BINH

  Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu gặp phải núi đá cao vòi vọi mà không có cỏ cây, bốn bề đều đương đầu với địch, ba quân ta sợ hãi, binh sĩ ta hoang mang, như vậy phải làm thế nào để thử thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”

Thái Công đáp: “Khi đóng quân ở trên núi cao thì sẽ bị địch uy hiếp bao vây, khi đã chọn núi để đóng quân thì phải bày điểu vân trận. Theo cách thức bày trận, trận điểu vân thì phía dương và phía âm cũng phải phòng bị hoặc đóng quân ở phía âm hoặc đóng quân ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía dương thì lo phòng bị ở phía âm, nếu đóng quân ở phía âm thì lo phòng bị ở phía dương. Nếu đóng quân ở phía bên trái thì lo phòng bị ở phía bên phải, nếu đóng quân ở phía bên phải thì lo phòng bị ở phía bên trái. Như vậy quân đich chỉ có thể đánh phá ở phía bên ngoài của cánh quân phòng thủ mà thôi. Những con đường ăn thông đến hang động phải dùng chiến xa ngăn chặn. Cờ xí cấm ở trên cao nhắc nhở binh sĩ cẩn thận không để cho quân địch biết rõ tình hình của ta.

Như vậy gọi là xây thành ở trên núi. Khi hàng ngũ đã đàng hoàng, binh sĩ đã bày xong trận, pháp lệnh đã được thi hành, quân giả và quân chính quy đã được thiết lập. Tất cả đều lập đội xung kích ở bên ngoài núi. Chỗ đóng quân phải chia chiến xa và kị binh ra bày điểu vân trận rồi thúc quân đánh thật nhanh. Như vậy quân địch tuy đông, tướng địch có thể bị bắt sống.

Thiên thứ 6: ĐIỂU VÂN TRẠCH BINH

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn binh tiến sâu vào đất chư hầu: ta và địch gặp nhau tại con sông, địch giàu có mà chưa đông, ta nghèo nàn mà binh ít. Ta muốn vượt sông đánh địch mà không thể tiến, muốn cầm cự lâu ngày mà không đủ lương thực. Chỗ ta đóng quân là nơi nước mặn đồng chua bốn bề không có làng mạc, lại không có cỏ cây. Quân ta tìm không ra lương thực, trâu và ngựa của ta không có rơm cỏ để ăn. Như vậy phải làm sao?”.

Thái Công đáp: “Ba quân ta không phòng bị, trâu ngựa không có thức ăn, binh sĩ không có lương thực, như vậy phải tìm cách đánh lừa địch để bỏ đi ngay và phải đặt phục binh ở đằng sau”.

Võ Vương hỏi: “Ta không đánh lừa được địch mà binh sĩ ta lại hoang mang, địch đánh phía trước và phía sau ta. Ba quân ta tán loạn thua chạy. Như vậy phải làm sao?”

Thái Công đáp: “Ta tìm lối thoát là chính, dựa theo tình hình địch mà sử dụng một cách khéo léo”.

Võ Vương hỏi: “Quân địch biết rằng ta có đặt phục binh. Nên đại quân của chúng không dám vượt sông mà chỉ cho những toán nhỏ qua sông. Quân ta thấy vậy rất lấy làm sợ hãi. Như vậyphải làm sao?”

Thái Công đáp: “Nếu như vậy ta phải chia ra làm nhiều toán xung kích, chọn chỗ tiện lợi mà đóng quân. Đợi những toán quân nhỏ của địch sang đến bên này bờ sông thì ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau. Nỏ mạnh ở bên trái và bên phải cùng lúc bắn ra. Chiến xa và kị binh lập thành trận điểu vân lo phòng bị ở trước và ở sau. Quân ta đánh thật nhanh, quân địch thấy quân ta tiến đánh ắt họp đại binh lại để vượt sông. Khi đó ta cho phục binh đánh nhanh ở phía sau, chiến xa và kị binh tiến đánh bên trái và bên phải. Quân địch tuy đông, tướng của địch cũng sẽ bỏ chạy. Điểm quan trọng của việc dùng binh là trong khi lâm chiến với địch phải tuỳ nghi mà đặt xung trận và coi chỗ nào tiện lợi thì đóng quân rồi sau mới chia kị binh ra thành lập điểu vân trận. Đó là điều đặt biệt của việc dùng binh. Gọi là điểu vân tức là điểu tan vân hợp (chim bay tản ra và mây tụ hợp lại).

Thiên thứ 7: THIỂU CHÚNG

   Võ Vương hỏi Thái Công rằng: “Ta muốn dùng binh ít mà đánh binh đông, dùng binh yếu đánh binh mạnh, như vậy phải làm sao?”.

Thái Công nói: “ Muốn dùng binh ít để đánh binh đông thì phải đợi khi chiều tối cho binh mai phục ở chổ cỏ cây rậm rạp và đoạn đường hiểm yếu mà đánh địch. Còn muốn dùng binh yếu đánh quân mạnh thì phải được sự trợ giúp của nước lớn đối với các nước láng giềng”.

Võ Vương hỏi: “Chỗ ta đóng quân không có cỏ cây rậm rạp lại không có những quảng đường hiểm yếu. Địch không đến vào buổi chiều, ta lại không được sự giúp đỡ của nước lớn và các nước láng giềng. Như vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Ta dùng nghệ thuật đánh lừa để dụ dỗ chúng, làm cho tướng của địch phải nghi ngờ. Ta đi đường cong khiến cho địch phải qua chỗ cỏ cây rậm rạp. Ta đi đường xa, khiến địch phải gặp ta vào buổi chiều. Đánh vào lúc địch chưa kịp vượt sông. Hậu quân của địch chưa kịp xuất quân, thì ta cho phục binh đánh nhanh ở bên trái và bên phải.

Chiến xa và kị binh quấy nhiễu mặt trước và mặt sau của địch. Quân địch tuy đông tướng địch cũng phải bỏ chạy. Sau đó ta phải giao hảo với nước lớn, nhún nhường đối với binh sĩ các nước láng giềng, dùng của cải dụ dỗ họ. Dùng lời lẽ khiêm nhường đối với họ, làm như vậy ta sẽ được nước lớn và các nước láng giềng trợ giúp”.

Thiên thứ 8: : PHÂN HIỂM

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi dẫn quân tiến sâu vào đất chư hầu, gặp địch tại nơi hiểm trở, bên trái của ta là núi, bên phải là sông. Bên phải của địch là núi, bên trái là sông. Địch và ta chia vùng hiểm trở mà chống cự nhau, phải làm sau để thủ thì vững chắc mà đánh thì sẽ thắng?”.

Thái Công nói rằng: “Đóng quân bên tả núi thì phòng bị bên hữu núi, đóng quân bên hữu núi thì phòng bị bên tả núi. Chỗ hiểm trở có sông lớn không có thuyền thì dùng cầu nổi (thiên hoàng) để binh ta sang sông, xong phải mở rộng đường đất để tiện cho chiến đấu, đặt xe vũ xung ở trước và sau, nỏ mạnh bày ở hai bên, ra lệnh giữ kỹ các tuyến đường dùng xe vũ xung chặn các cửa hang, cắm cờ xí ở trên cao, như vậy gọi là xây thành bằng xe. Theo phép đánh giặc thì ở chỗ hiểm yếu phải đặt xe vũ xung ở phía trước và cỗ xe đại lỗ dùng để yểm trợ. Binh sĩ tinh nhuệ và nỏ mạnh ở hai bên trái và phải có 3000 người để đóng đồn và bày xung trận. Chỗ tiện lợi thì đóng quân. Tả quân ở bên trái, Hữu quân ở bên phải, Trung quân ở giữa, cùng lúc tiến đánh, đánh xong trở về đồn, thay phiên nhau vừa đánh vừa nghỉ, đánh đến khi nào thắng mới thôi”.

Võ Vương khen rằng : “Hay lắm”

(Trích THẬP NHỊ BINH THƯ)

Trong bài đăng tiếp theo, tôi xin chia sẽ quyển KHUYỂN THAO (LUYỆN SĨ), quyển cuối cùng trong bộ BINH PHÁP LỤC THAO của Khương Tử Nha.

 

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu.

E-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com

BINH PHÁP LỤC THAO: LONG THAO (KHƯƠNG TỬ NHA)

Tôi xin tiếp tục chia sẽ quyển LONG THAO (龙韬) – tuyển tướng của bộ BINH PHÁP LỤC THAO (KHƯƠNG TỬ NHA) trong  VŨ KINH THẤT THƯ.

LONG THAO (THUẬT TUYỂN TƯỚNG) 

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

Thiên thứ nhất: VƯƠNG DỰC

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Vua mang quận đi đánh phải có tay chân vây cánh để tạo nên uy thần, muốn vậy thì phải làm thế nào?”

  Thái Công đáp: “Phàm cất quân đi đánh, thì dùng tướng làm mệnh. Mệnh cốt ở chổ thông suốt, chứ không theo một phép nhất định. Tùy theo khả năng mà giao phó nhiệm vụ, tận dụng sở trường của từng người, lấy sự tùy cơ ứng biến làm nguyên tắc.

Nên tướng có 72 người làm tay chân vây cánh, ứng theo số trời định để nghiên cứu phương pháp, hiểu rõ nguyên lí, đủ tài hay thuật lạ, thì mọi việc đều xong cả”.

Võ Vương nói: “Xin hỏi về từng mục”.

Thái Công đáp: “Tâm của một người, chuyên về mưu lược, đối phó cấp thời, diệt trừ biến loạn, nắm trọn mưu kế để bảo toàn tính mạng của dân.

+ Mưu sĩ:  5 người, lo sự an nguy, tính việc chưa xảy đến, xem xét đức hạnh tài năng, thưởng phạt nghiêm minh, bổ nhiệm quan tước, quyết đoán sự hiềm nghi, định việc nên hay đừng.

+ Thiên văn:  3 người, chuyên xem tinh tú, khí hậu dự đoán ngày giờ, quan sát sự linh ứng, kiểm chứng thiên tai chuyện lạ, biết rõ lòng người và thời cơ tiến lui.

+ Địa lợi: 3 người, lo việc tiến dừng của ba quân, tình thế lợi hại, tin tức gần xa, dễ hay khó, sông núi cách trở ra sao, để không mất địa lợi.

+ Binh pháp:  9 người, nghiên cứu những điểm khác nhau, hành động thành bại, huấn luyện ba quân, chỉ ra những điều sai của binh pháp.

+ Thông lương: 4 người, lo việc ăn uống, tích trữ lương thực, chuyển vận ngũ cốc, khiến ba quân không bị thiếu thốn.

+ Phần uy: 4 người, chuyên chọn người tài đức, nghiên cứu binh lược, đánh như gió thổi, sấm vang, khiến địch không biết đến từ đâu.

+ Phục cổ kì: 3 người lo việc dùng cờ trống, làm sáng tai mắt ba quân,mạo chứng thu ấn tín, giả hiệu lệnh đối phương, đi lại trong đêm tối xuất nhập như thần:

+ Cố vấn: 4 người, đảm nhiệm công tác nặng nề, sửa hào đắp lũy, phòng ngự địch quân.

+ Thông tài: 3 người, chuyên tìm chổ sơ sót, sửa chữa lỗi lầm, tiếp đãi tân khách, bàn bạc chuyện trò giải quyết việc rắc rối.

+ Quyền sĩ: 3 người, chuyên làm điều quỹ quyệt, đặt chuyện dị kì, biến trá vô song, không ai biết được.

+ Nhĩ mục: 7 người, đi lại nghe ngóng tin tức, quan sát biến động, xem xét công việc bốn phương và tình hình trong quân ngũ.

+ Trảo nha: 5 người, chuyên nâng cao uy vũ khích lệ ba quân, khiến họ hăng hái không ngại xông pha chốn hiểm nguy.

+ Vũ dực: 4 người, chuyên tuyên truyền danh tiếng, kinh động bốn cõi, làm nao núng lòng địch.

+ Du sĩ: 8 người, chờ dịp có âm mưu gian biến móc nối cảm tình, xét ý hướng địch để làm gián điệp

+ Thuật sĩ: 2 người, lợi dụng quỷ thần làm điều giả dối để mê hoặc lòng dân.

+ Phương sĩ:  2 người, rành về thuốc men, trị lành bệnh và thương tích.

+ Pháp toán:  2 người, lo việc kế toán trong ba quân, xuất nhập vật dụng, doanh trại, lương thực, tiền của”.

Thiên thứ hai: LUẬN TƯỚNG

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép luận tướng như thế nào?”

Thái Công đáp: “Tướng có năm điều hay và mười điều lợi”.

Võ Vương hỏi: “Xin hỏi về từng mục”.

Thái Công đáp: “Năm điều hay là dũng, trí, nhân, tín, trung.

+ Dũng thì không thể xâm phạm.

+ Trí thì không thể rối loạn.

+ Nhân thì hay thương người.

+ Tín thì không dối trá.

+ Trung thì không ở hai lòng.

Mười điều lợi:

Dũng mà coi thường cái chết. Gấp mà trong lòng vội vã. Tham mà ham lời. Nhân mà không nỡ giết người. Trí mà nhút nhát. Tín mà hay tin người. Liêm mà không thương người. Trí mà chậm chạp. Cương mà chỉ theo ý mình. Nhu mà hay nghe người.

Dũng mà coi thường cái chết thì bị hại. Tham mà ham lợi thì sơ suất. Nhân mà không nỡ giết người thì sinh phiền nhiễu. Trí mà nhút nhát thì bị khốn đốn. Tín mà hay tin người thì bị lừa gạt. Liêm mà không thương người thì bị khinh nhờn. Trí mà chậm chạp thì bị đánh úp. Cương mà chỉ theo ý mình thì thành tai hại. Nhu mà hay nghe người thì bị chèn ép.

Nên việc binh là việc trọng đại, là đạo mất còn của một nước. Mệnh ở trong tay của người tướng nên tướng là người phò tá nước nhà mà xưa kia các bật tiên vương vốn rất coi trọng. Khi phong người làm tướng không thể không xét kỹ.

Cho nên thường nói rằng, binh không thắng hai lần, cũng không thua hai lần, không mất nước thì cũng bị mất tướng tàn quân”.

Võ Vương nói: “Thật là hay vậy”.

Thiên thứ ba: TUYỂN TƯỚNG

   Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi vua cử binh, muốn tuyển chọn anh hùng, làm sao phân biệt tài cao thấp của kẻ sĩ?”.

Thái Công đáp: “Diện mạo của kẻ sĩ thường không giống với bên trong”.

– Có người nghiêng mà không hiền.

– Có người hiền mà trộm cắp.

– Có người cung kính bề ngoài mà trong lòng khinh người.

– Có người tỏ ra liêm khiết mà không thật thà.

– Có người chung thủy mà bất nghĩa.

– Có người nồng hậu mà không thành tâm.

– Có người giỏi mưu mà không quả quyết.

– Có người quả cảm mà không tài năng.

– Có người thật thà mà không tin được.

– Có người hốt hoảng mà không trung trực.

– Có người quỷ quyệt mà làm nên công.

–  Có người ngoài dạn mà trong nhát.

– Có người trang nghiêm mà dễ dãi.

– Có người quát tháo mà bình tĩnh.

– Có người dáng xấu xa, nhưng khi ra ngoài thì ngang dọc vẫy vùng, không có gì là không làm được. Thiên hạ khinh thường mà thánh nhân quý trọng. Người thường không thể biết nếu không là bật cao minh thì không nhìn thấy điều này. Đấy là điện mạo kẻ sĩ, không giống với suy nghĩ bên trong.

Võ Vương hỏi: “Làm sao mà biết được?

Thái Công đáp: “Có tám cách để biết”

–  Một là dùng lời mà hỏi để xem xét cách ăn nói.

–  Hai là cố tình trách móc để xem sự đổi thay.

–  Ba là cho biết âm mưu để xem lòng thành thật.

–  Bốn là thăm hỏi rõ ràng để xem đức độ.

–  Năm là sai khiến bằng tiền để xem tính thanh liêm.

–  Sáu là thử sắc đẹp để xem sự trinh khiết.

–  Bảy là cho biết khó khăn để xem lòng can đảm.

–  Tám là chuốc rượu cho say để xem thái độ.

Thử bằng tám cách này thì phân biệt được kẻ ngu người hiền”.

 Thiên thứ bốn : LẬP TƯỚNG

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Đạo lập tướng như thế nào?”.

Thái Công đáp: “Khi đất nước lâm nguy thì vua rời khỏi chính điện, mời vị tướng vào mà dụ rằng “Xã tắc yên nguy, đều do nơi tướng quân. Nay có nước Mỗ không thuần phục, mong tướng quân đem binh đối phó”.

Khi tướng đã nhận mệnh, vua sai quan Thái sư xem xét thiên văn, ăn chay ba hôm nơi Thái miếu, nghiên cứu linh quy, chọn ngày tốt để trao búa rìu.

Vua vào trong miếu, đứng ở cửa bắc, cầm lưỡi búa trao cho tướng mà nói rằng ‘Từ nay trở đi từ mặt đất đến vực thẳm đều do tướng quân chế ngự. Thấy địch yếu thì tiến, địch mạnh thì dừng, không vì quân đông mà khinh địch, chớ vì nhận mệnh mà phải chết. Đừng cho mình cao quý mà khinh người, không độc đoán mà phản bội lòng dân, cũng không nên cho lời của mình là đúng. Quân chưa ngồi thì không ngồi, quân chưa ăn thì không ăn, cùng chung cảnh ấm no đói rét, như thế thì sĩ tốt sẽ chiến đấu quên mình”.

Tướng nhận mệnh xong bái tạ ân vua mà đáp rằng: “Thần nghe nói, nước không thể trị từ bên ngoài, quân không thể trị từ bên trong. Kẻ có hai lòng không thể thờ vua, người nhụt chí không thể đánh giặc. Nay thần đã chịu mệnh vua, nắm trọn quyền uy lãnh đạo, thần không dám tham sống trở về, xin vua hạ lệnh cho thần, nếu vua không cho phép thì thần không dám làm tướng”.

Vua nhận lời, tướng bèn cáo biệt ra đi. Mọi việc trong quân ngũ đều không theo lệnh vua, mà tuân theo lệnh tướng. Gặp địch chỉ quyết chiến, chứ không có hai lòng.

Như vậy thì trên không có trời, dưới không có đất, trước không có địch, sau không có vua. Nên bậc tài trí mới có công giúp vua, người vũ dũng mới gắng sức dẹp giặc. Khí thế cao vút tận mây xanh, tiến nhanh như ngựa phi nước đại, quân chưa giao chiến mà địch đã đầu hàng.

Ngoài thì chiến thắng địch, trong lập được công to, quan được thăng cấp, quân được ban thưởng, trăm họ vui mừng, không còn gặp cảnh tai ương. Do đó mà bốn mùa mưa thuận gió hoà, ngũ cốc phong phú, xã tắc yên vui”.

Võ Vương nói: “Thật là hay lắm”.

 Thiên thứ năm : TƯỚNG UY

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Tướng lấy gì làm uy, lấy gì làm sáng, lấy gì làm răn mà lệnh được thi hành?”

Thái Công đáp: “Tướng lấy việc diệt lớn làm uy, thưởng nhỏ làm sáng, hình phạt làm răn mà lệnh được thi hành.

Nên giết một người mà ba quân run sợ thì phải giết. Thưởng một người mà vạn người đều vui thì nên thưởng. Việc giết quý ở chỗ không kể người cấp to, việc thưởng quý ở chỗ kể cả người cấp nhỏ. Giết đến quan đang có địa vị cao quý là phạt đến cấp cao nhất. Thưởng đến kẻ chăn trâu tắm ngựa là thưởng đến tận kẻ dưới.

Phạt đến kẻ trên cùng, thưởng đến tận kẻ dưới là những việc làm tăng thêm uy quyền của người tướng vậy”.

 Thiên thứ sáu: LỆ QUÂN

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Trẫm muốn khiến cho ba quân, lúc công thành thì tranh nhau lên, khi dã chiến thì tranh nhau tiến, nghe chiêng khua mà giận, nghe trống đánh mà mừng thì phải làm thế nào?”

 Thái Công đáp: “Tướng có ba điều cần biết”.

Võ Vương hỏi: “Xin hỏi từng mục”.

Thái Công đáp: “Tướng mà mùa hè không cần quạt, mùa đông không mặc áo lông cừu ,gặp mưa không che lọng, gọi là Lễ Tướng. Làm tướng mà thân không giữ lễ, thì không biết được sự nóng rét của sĩ tốt.

Ra chốn hiểm trở, vào nơi sình lầy, tướng phải đi trước, gọi là Lực Tướng. Làm tướng mà bản thân không lao lực thì không biết được sự cực khổ của sĩ tốt.

Quân đã yên nghỉ, tướng mới vào nhà. Cơm đều chín cả, tướng mới đến ăn. Quân không đốt lửa, tướng cũng khôgn đốt. Gọi là Chỉ dục Tướng. Làm Tướng mà không nếm qua cảnh cực khổ thì không biết được sự đói lo của sĩ tốt.

Tướng cùng sĩ tốt chung cảnh nóng rét, cực khổ, đói no thì khi nghe trống đánh ba quân đều mừng, nghe chiêng khua ba quân đều giận, gặp thành cao hào sâu, tên bay đá ném vẫn tranh nhau lên, đao kiếm giáp nhau vẫn tranh nhau tiến, không phải là họ thích bị thương vong, mà vì tướng biết đến cảnh ấm no đói rét, hiểu rõ sự lao khổ của họ”.

 Thiên thứ bảy: ÂM PHÙ

     Võ Vương hỏi Thái Công: Đem quân vào sâu đất chư hầu, nếu trong ba quân chợt có việc hoãn gấp có thể có lợi, có thể có hại. Vua với tướng muốn thông báo nhau từ gần đến xa, tiếp ứng nhau từ trong ra ngoài, cung cấp nhu cầu cho ba quân thì phải làm thế nào?”.

Thái Công đáp: “Vua và tướng có thứ âm phù: (ám hiệu)

–   Thứ đại thắng dài một thước

–   Thứ giết quân bắt tướng dài 9 tấc

–   Thứ chiếm đất hạ thành dài 8 tấc

–   Thứ báo tin đuổi địch dài 7 tấc

–   Thứ răn quân kiên thủ dài 6 tấc

–   Thứ xin lương thêm binh dài 5 tấc

–   Thứ quân thua tướng mất dài 4 tấc

–   Thứ bất lợi, chết quân dài 3 tấc

Những người nhận lệnh thi hành âm phù cần phải thận trọng, nếu việc trong âm binh bị tiếc lộ thì người nghe kẻ nói đều bị giết.

Vua và tướng dùng tám thứ âm phù này để bí mật thông báo tin tức với nhau chứ không dùng lời nói câu văn.

Đấy là một thuật để trong ngoài hiểu nhau, nên dù địch có thánh trí cũng không thể biết được”.

 Thiên thứ tám: ÂM THƯ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Đem quân vào sâu đất chư hầu, vua và tướng muốn họp quân lại để hành sự, biến hoá vô cùng, hay mưu tính việc lợi trong khi địch bất trắc, như thế công việc rất nhiều mà âm phù không diễn tả được, đôi bên lại xa cách, không thể dùng lời nói thông tin với nhau, thì phải làm thế nào?”.

Thái Công đáp: “Khi có chuyện mất hay toan tính việc lớn thì nên dùng thư mà không dùng phù. Vua viết thư cho tướng, tướng viết thư hỏi vua. Thư từ đều dùng cách hợp nhất phân chia, ba người phát đưa mà chỉ một người biết, nghĩa là lấy ý trong thư chia ra làm ba phần, giao cho ba người mang đi, nên không ai rõ được sự tình. Như thế gọi là âm thư, dù địch có thánh trí cũng không thể biết được”.

 Thiên thứ chín: QUÂN THẾ

    Võ Vương hỏi Thái Công: “Phép công phạt như thế nào?”

 Thái Công đáp: “Phải nhân sự biến động của địch giữa hai trận đánh mà phát ra thế kì chính vô tận.

Cho nên việc đến không cần bàn, dùng binh không cần bàn nhiều và ít có thời gian, binh đã dùng thì hình dáng không thể lấy nó, chợt đi chợt đến, không ai chế ngự được. Đó mới là biết cách dùng binh.

Phàm việc binh hễ nghe thì bàn bạc, thấy thì mưu đồ, biết liệu chỗ khó khăn, phân biệt việc nguy hiểm. Nên người thiện chiến không chờ đến lúc dàn quân, kẻ khéo trị đã biết diệt trừ khi hoạ chưa xảy đến.

Người giỏi thắng địch, thắng từ lúc vô hình, khi ra trận không được giao chiến. Cho nên tranh thắng nơi trận mạc không phải là tướng giỏi,  phòng bị khi đã mất không phải là bậc thánh, dạy dỗ như mọi người không phải là bậc thánh, trị giống như mọi người không phải là bậc quốc sư, tài nghệ như mọi người không phải là bậc quốc công.

Không gì lớn hơn là việc đã thành. Không gì khéo hơn là bình tĩnh hành động, không gì hay hơn là bất ngờ. Mưu không gì tốt hơn là kín đáo. Người thắng trước là kẻ đã thấy chổ yếu của địch rồi mới đánh, nên chỉ làm một nửa mà hiệu suất gấp bội.

Thánh nhân xem sự biến động của trời đất mà biết được giềng mối, xét đạo âm dương mà tuỳ thế tuỳ thời. Trời đất đầy vơi là lẽ thường, vạn vật sống chết là do hình tượng của trời đất, nên chưa thấy hình dạng mà đánh thì dù đông vẫn thua.

Người thiện chiến, sẵn có tinh thần bất khuất, thấy thắng thì khởi binh, không thắng thì đừng, nên mới nói rằng không sợ hãi mà cũng không do dự. Trong phép dùng binh, do dự là một điều tai hại nhất. Tai vạ trong ba quân, cũng không có gì hơn là hồ nghi.

Người thiện chiến, thấy lợi không thể mất, gặp thời không hồ nghi, vì để mất lợi thì sau phải gánh lấy tai ương.

Nên người có trí, tuỳ thời mà không bỏ lợi. Kẻ khoé tính, cương quyết mà không phân vân, như sấm không kịp che tai, chớp nhanh không kịp nhắm mắt, đi mau như sợ hãi, dùng binh như điên cuồng, ai ngăn thì phải vỡ, ai gần thì phải chết, không ai có thể chống cự.

Tường tướng không nói mà giữ được là thần, không nhìn mà thấy được là minh (sáng). Nên biết đạo thần minh thì trong rừng không có giặc hoành hành, trước mắt không có nước đối lập”.

 Thiên thứ mười: KÌ BINH

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Điều quan trọng trong phép dùng binh như thế nào?”

Thái Công đáp: “Xưa kia, những người thiện chiến không phải đánh ở trên trời, cũng không phải đánh ở dưới đất, mọi việc thành bại đều do “thế” mà ra. Được thế thì thịnh, thất thế thì mất.

Thường giữa hai trận đánh, ta dàn quân cởi giáp cho sĩ tốt nghỉ ngơi,  thi hành kế hoạch của trận đánh.

Đóng nơi cây cỏ rậm rạp để có chỗ ẩn nấp, nơi hang sâu hiểm trở để ngăn xe chống kị binh, nơi núi rừng quan ải để dùng ít đánh nhiều, nơi ao đầm âm u để che giấu hình dáng, nơi đồng trống quang đãng để dùng sức tranh hùng.

Nhanh như tên bay, đạn bắn để phá chỗ tinh vi của địch, bày mưu ẩn núp, đem binh dẫn dụ để phá quân, bắt tướng. Chia tư xẻ năm để phá thế vuông tròn. Khiến địch sợ hãi để dùng một đánh mười. Thừa lúc địch mệt để lấy mười đánh trăm.

Dùng kỹ thuật để vượt sông ngòi. Nỏ cứng giáo dài để đánh thuỷ chiến. Do thám quan ải, đột nhập nhanh chóng để chiếm ấp hạ thành. Đánh trống ầm ĩ để dùng kế lạ. Mưa to gió lớn để đánh trước chặn sau. Giả làm sứ địch để chặn đường tải lương, giả mạo hiệu lệnh, ăn mặc như địch để phòng khi chạy trốn.

Lấy nghĩa mà đánh để khích quân thắng địch. Thăng chức trọng thưởng để khiến quân tuân hành. Nghiêm hình trọng phạt để răn quân lười biếng. Khi vui khi giận, lúc lấy lúc cho, khi văn khi võ, lúc nhanh lúc chậm để điều hoà ba quân trị người dưới trướng.

Ở nơi cao rộng để tiện việc phòng thủ, giữa chốn hiểm nguy để dễ bè củng cố, rừng núi rậm rạp để che dấu sự đi lại, luỹ cao hào sâu lương đầy để cầm cự lâu dài.

Cho nên không biết mưu kế tấn công thì không thể nói là vô địch, không biết cách phân chia thay đổi thì không thể nói là li kì, không giỏi cách trị loạn thì không thể nói là ứng biến.

Nên mới nói rằng: “Tướng không có nhân thì ba quân không thân, tướng không có dũng thì ba quân không tinh nhuệ, tướng không có trí thì ba quân nghi ngờ, tướng không sáng suốt thì ba quân nghiêng ngửa, tướng không tinh vi thì ba quân lơ là, tướng không hay răn dạy thì ba quân không phòng bị, tướng không kiên quyết thì ba quân bê trễ.

Cho nên tướng là tư lệnh của ba quân, có thể khiến ba quân yên, có thể khiến ba quân loạn. Tướng giỏi thì quân cường nước thịnh, tướng không giỏi thì quân suy nước mất”.

Thiên thứ mười một: NGŨ ÂM

       Võ Vương hỏi Thái Công: “Nghe âm thanh luật quản (nhạc cụ chế bằng ống trúc để làm tiêu chuẩn cho các âm thanh) có thể biết được tin tức của ba quân, có quyết định sự thắng bại hay không?”.

Thái Công đáp: “Câu hỏi của vua thật là sâu sắc. Luật quản có mười hai thứ, căn bản là ngũ âm: cung, thương, giác, chuỷ, vũ. Đấy là những âm thanh chính, muôn đời không thay đổi, là chỗ thần diệu của ngũ hành mà cũng là lẽ thường của đạo.

Nhờ ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ ta có thể biết được địch và dùng cái hay của mỗi loại để tấn công họ.

Ngày xưa, Tam Hoàng, lấy sự khiêm nhường mà trị sự cứng cỏi, chưa có chữ nghĩa, chỉ dùng ngũ hành. Ngũ hành là đạo tự nhiên của trời đất, chia thành lục giáp thần diệu vô cùng.

Phương pháp áp dụng là nhân lúc trời trong sáng không mây mù mưa gió, nửa đêm đem quân đột nhập thành luỹ địch, cách hơn chín trăm bước, tay cầm luật quản, gào thét bên tai địch, trong âm thanh kích động xen lẫn tiếng quản nghe rất nhỏ.

Tiếng trổ âm giác (mộc) thì dùng bạch hổ (kim), trổ âm thuỷ (hoả) thì dùng huyền vũ (thuỷ), trổ âm thương (kim) thì dùng chu tước (hoả), trổ âm vũ (thuỷ) thì dùng câu trần (thổ). Tiếng quân chấm dứt không trổ âm nào là cung (thổ) thì dùng thanh long (mộc), đấy là âm hiệu ngũ hành giúp cho chiến thắng, là cơ sở của sự thành bại”.

Võ Vương nói: “hay lắm”

Thái Công tiếp: “Khi nghe âm thanh khác lạ thì phải dò xét bên ngoài”

Võ Vương hỏi: “Làm sao mà biết?”

Thái Công hỏi: “Trong khi địch kinh động thì ta để ý nghe. Nghe tiếng trống là giác, thấy lửa sáng là chuỷ, nghe tiếng kim khí là thương, nghe tiếng reo hò là vũ, im lặng không có tiếng động là cung. Đấy là âm điệu của thanh sắc”.

Thiên thứ mười hai: BINH TRƯNG

 Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi chưa đánh nhau, ta muốn biết biết trước sự mạnh yếu của địch, thấy trước cái điểm thắng bại thì phải làm thế nào?”.

Thái Công đáp: “Cái điềm thắng bại, có thể nhìn thấy ở tinh thần. Người tướng sáng suốt biết xem xét, thì cái bại thuộc về người khác.

Cẩn thận là do sự ra vào tiến lui của địch, xem xét động tĩnh, lời nói tốt xấu do binh sĩ địch tiết lộ.

Nếu ba quân vui vẻ, sĩ tốt tôn trọng pháp luật, tuân theo lệnh tướng, lấy việc phá địch để cùng vui, lấy lòng dũng mãnh để phô tài, lấy uy vũ để kính nhau, thì đấy là điểm mạnh.

Nếu ba quân hay sợ hãi. Sĩ tốt không một lòng lấy địch mạnh doạ nhau, đem điều bất lợi bảo nhau, kháo nhau không hết chuyện xấu, mọi người bàn tán nghi hoặc lẫn nhau, không theo pháp luật, không trọng tướng mình, thì đấy là điểm yếu.

Nếu ba quân tề chỉnh, trận thế vững vàng, thành cao hào sâu, lại được lợi khi mưa to gió lớn, ba quân chỉ cờ ra phía trước, tiếng chiêng vang rất thanh, tiếng trống kêu rất rõ, thì đấy là sự giúp đỡ của thần linh, là điểm thắng lớn.

Nếu ra trận không vững vàng, cờ xí rối loạn quấn lấy nhau, không lợi khi mưa to gió lớn, sĩ tốt kinh hãi, khí thế bị mất, ngựa chiến sợ chạy, xe bị gảy trục, tiếng chiêng thấp đục, tiếng trống khàn như bị thấm nước, thì đấy là điểm thua to.

Phàm đánh thành vây ấp mà trông thấy khí sắc trong thành như tro tàn thì thành ấy có thể đánh được, khí trong thành bốc về hướng Bắc thì thành ấy có thể lấy được. Bốc về hướng Tây thì thành ấy phải đầu hàng. Bốc về hướng nam thì thành ấy không thể chiếm được. Bốc về hướng Đông thì thành ấy không thể đánh được. Bốc rồi lại bay vào làm chủ tướng chạy trốn. Bốc lên rồi che trên quân ta thì quân ta mắc bệnh. Bốc lên cao mãi không dứt là phải chiến đấu lâu dài.

Khi đánh thành vây ấp quá một tuần mà không mưa không sấm, thì phải bỏ đi ngay, vì trong thành đã có người trợ giúp.

Đấy là điềm để biết trước có thể đánh được thì mới đánh, không thể đánh được thì thôi”

Thiên thứ mười ba: NÔNG KHÍ

     Võ Vương hỏi Thái Công: “Khi thiên hạ yên ổn trong nước vô sự, ta không cần tu bổ chiến cụ, không cần lo việc phòng thủ có được chăng?”

Thái Công đáp: “Những công cụ tấn công hay phòng thủ đều do công việc của con người.

Việc cầy cấy gây trở ngại cho ngựa đi. Xe cộ, ngựa, trâu là dinh lũy, thuẫn, mộc. Dụng cụ cầy bừa là binh khí, mâu, kích. Dù, nón, áo tơi là binh giáp che thân. Cuốc, mai, búa, cưa, chày, cối là vật dụng đánh thành. Trâu, bò, ngựa để vận tải lương thực. Chó, gà để canh phòng kẻ địch. Đàn bà dệt vải để làm cờ xí. Đàn ông san đất là đánh thành.

Mùa xuân sạch cỏ gai là đánh kị binh, mùa hè làm cỏ ngoài đồng là đánh quân bộ, mùa thu gặt lúa là dự trữ lương thực, màu đông chất đầy kho chứa là để phòng thủ vững chắc.

Tổ chức hàng ngũ ở ruộng vườn là tín hiệu gắn bó. Trong làng có viên chức, trong quan có hàng tướng soái. Quanh làng có tường ngăn cách là phân chia đội ngũ. Thu thóc, lấy cỏ làm kho chứa. Xuân thu hai mùa sửa sang thành quách, tu chỉnh mương rạch để đắp chiến lũy.

Cho nên vật dụng dùng vào việc binh là đều ở công việc của con người. Biết chọn những công việc đó là người giỏi trị nước, nên phải khéo dùng các loại gia súc, khai khẩn đất đai, ổn định nhà cửa, đàn ông làm ruộng, đàn bà dệt vải. Đấy là đạo khiến cho nước nhà yên mạnh”.

Võ Vương nói: “Thật là hay vậy”.

(Trích: THẬP NHỊ BINH THƯ).

 

Và tôi sẽ đăng phần kế tiếp quyển HỔ THAO (BINH PHÁP LỤC THAO).

Sưu tầm: Phan Thành Hiếu.

E-mail: phanthanhhieu.png@gmail.com

BINH PHÁP LỤC THAO: VÕ THAU (KHƯƠNG TỬ NHA).

Trong đợt chia sẽ trước, tôi đã đăng quyển VĂN THAO (dụng nhân – trị quốc)  trong bộ BINH PHÁP LỤC THAO của Khương Tử Nha. Nay, tôi xin tiếp quyển VÕ THAU (dụng binh).

VÕ THAU (BINH PHÁP LỤC  THAO).

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

 Thiên thứ 1: PHÁT KHẢI

      Văn Vương ở đất Phong, mời Thái Công đến mà nói rằng: “ Than ôi, vua Thương tàn ác vô cùng, giết hại người vô tội. Khanh đang có cách gì để giúp đỡ dân đang đau khổ chăng?”

Thái Công đáp: “Vua nêm sửa đức để người hiền cảm phục, ban ân để dân thấy đạo trời.

Không có tai ương thì không thể khởi xướng đạo trời. Không có tai họa thì không thể toan tính đạo người.

Phải lấy thiên tai và nhân họa thì mới mưu được việc lớn. Phải thấy được phải trái thì mới biết được lòng người. Phải thấy bên ngoài và bên trong thì mới rõ được ý người, phải thấy chỗ sơ hở và chỗ thân thì mới hiểu được tính người.

Bây giờ theo đạo mà làm, đạo sẽ được thi hành, theo cửa mà vào, theo cửa sẽ được mở cho vào. Đặt ra việc lễ, lễ nghi sẽ thành. Đấu tranh bằng sức mạnh, sức mạnh sẽ chiến thắng.

Toàn thắng mà không phải đánh nhau, không cần lập đại binh, cảm thông đến quỷ thần. Huyền diệu thay!

Đối với người, cùng bị bệnh thì cứu nhau, cùng bị thương thì dựa vào nhau, cùng bị ghét thì giúp nhau, cùng thích thì hợp nhau. Nên không cần giáp binh mà vẫn thắng. Không cần xung đột, mà vẫn tiến công, không cần hào lũy mà vẫn cố thủ.

Người có trí lớn không cần đến trí, có mưu cao không cần đến mưu, có dũng khí không cần đến dũng, có lợi to không cần đến lợi.

Làm lợi cho thiên hạ thì thiên hạ chào đón, làm hại cho thiên hạ thì thiên hạ chối từ. Thiên hạ không phải của một người, thiên hạ là của cả thiên hạ. Chiếm lấy thiện hạ như việc săn thú, mà mọi người đều tin rằng mình sẽ được chia phần thịt, cũng như ngồi chung thuyền mà sang sông, qua được thì cũng có lối đi, mà thất bại thì cùng bị hại, nên tất cả đều chờ đón mà không chối từ.

Không lấy của dân là chiếm được dân, không lấy của nước là chiếm được nước, không lấy của thiên hạ là chiếm được thiên hạ.

Không lấy của dân thì dân làm lợi cho mình, không lấy của nước thì nước làm lợi cho mình. Không lấy của thiện hạ thì thiên hạ làm lợi cho mình.

Cho nên đạo hay ở chỗ không thể thấy, sự hay ở chỗ không thể nghe, thắng hay ở không thể biết. Huyền diệu thay!

Chim cắt sắp bắt mồi thì ngưng bay thu cánh, thú dữ sắp vồ thì nép mình cụp tai, thánh nhân sắp hành động thì có vẻ dại khờ.

Nay ở nước Thương, dân chúng ngờ vực lẫn nhau, tinh thần hoang mang, đời sống khổ cực vô cùng. Đấy là cái điềm mất nước.

Ta nhìn thấy ngoài đồng cỏ nhiều hơn lúa, dân chúng thì gian nhiều hơn ngay, quan lại thì tham tàn bạo ngược, bất chấp cả luật pháp trên dưới đều không giác ngộ. Đấy là lúc mất nước.

Đại minh phát ra thì muôn vật đều sáng. Đại nghĩa phát ra thì muôn vật đều lợi. Đại binh phát ra thì muôn vật đều phục tùng.

Vĩ đại thay! Cái đức của thánh nhân! chỉ nghe chỉ thấy cũng đủ vu lòng”.

Thiên thứ 2: VĂN KHẢI

     Văn Vương hỏi Thái Công: “Thánh nhân phải giữ điều gì?”

Thái Công đáp: “Phải lo nghĩ, xót xa, quan tâm đến vạn vật. Xót xa lo nghĩ, quan tâm thì vạn vật sẽ hết lòng vì mình. Chính sách ban ra, ai cũng biết. Thời cơ chưa đến, ai cũng biết lúc đổi thay. Thánh nhân giữ điều này mà cảm hóa vạn vật.

Phàm cái gì đến chỗ cùng tận thì trở lại lúc ban đầu. Muốn tốt muốn nhàn thì khéo léo mà cầu mong. Cầu mong mà được thì không thể không giữ lấy, đã giữ lấy thì không thể không hành động, đã hành động thì không nên  khoe mình.

Trời đất không khoe mình nên tồn tại lâu dài. Thánh nhân không khoe mình nên nên tên tuổi rạng rỡ.

Xưa Thánh nhân tập hơp người lại thành nhà, tập hợp nhà lại thành nước, hợp nước lại thành thiên hạ, phong hầu cho người hiền, lập thành vạn quốc, gọi là đại kỉ.

Đặt ra chính sách, dạy dỗ, dựa theo phong tục của dân, sửa điều trái thành ngay, thay hình đổi dạng muôn nước đều thông, khắp nơi đều vui vẻ, mọi người đều thương vua, gọi là đại thịnh.

Ôi, Thánh nhân lo ổn định, hiền nhân lo chỉnh đốn, kẻ ngu không thể chỉnh nên tranh chấp với người trên, nên có nhiều hình phạt, hình phạt nhiều thì dân lo lắng, dân lo lắng nên lưu vong khắp nơi, trên dưới sống không yên, cứ thế kéo dài từ đời này sang đời kia gọi là đại thất.

Người trong thiên hạ ví như dòng nước chảy, hễ ngăn thì dừng, mở thì chảy, yên thì trong.

Thần diệu thay! Thánh nhân thấy được cái khởi đầu thì biết được sự kết thúc”.

Văn Vương hỏi: “Làm sao yên?”

Thái Công đáp: “Trời có hình tượng của trời, dân có đời sống bình thường, cùng dân chung sống thì thiên hạ yên. Xưa bậc minh quân noi theo đó mà cảm hóa dân, dân được cảm hóa thì tuân theo chính sách, nên làm nên sự nghiệp, giàu có. Đấy là cái đức của thánh nhân”.

Văn Vương nói: “Lời nói của người rất hợp với lòng ta vậy. Ta sẽ đêm ngày ghi nhớ không quên đển dùng làm đạo”.

Thiên thứ 3: VĂN PHẠT

    Văn Vương hỏi Thái Công: “ Văn phạt là thế nào?”

 Thái Công đáp: “Văn phạt có mười hai điều:

+ Điều 1:  Tùy sở thích của người mà chiếu theo ý họ, họ sẽ sinh lòng kiêu hãnh, sẽ hay gây sự, ta nhân dịp đó mà trừ đi.

+ Điều 2: Thân thiện với người họ yêu quý để chia xẻ uy quyền, một người mà hai lòng nội bộ ắt suy, trong triều không có trung thần thì xã tắc phải nguy.

+ Điều 3:  Mua chuộc những người thân cận để gây cảm tình. Thân ở trong mà lòng ở ngoài thì nước sẽ bị hại.

+ Điều 4: Cho họ hưởng lạc để làm tan ý chí, biếu nhiều châu ngọc, hiến dâng gái đẹp để mua vui, nói năng khiêm nhường thuận với lẽ phải thì họ sẽ không tranh, gian kế ấy sẽ thành.

+ Điều 5: Đối với trung thần không được hối lộ, vờ lưu giữ họ, khiến cấp trên không nghi họ mà thay ngay kẻ khác. Ta đối với họ thành thật, thân mật và tin tưởng. Vua sẽ triệu họ về mà nghiêm trị. Khi đó ta có thể mưu việc lấy nước.

+ Điều 6:  Mua chuộc bên trong, li gián bên ngoài, khiến cho quan giỏi giúp bên ngoài, địch đánh vào trong thì họ không tránh khỏi mất nước.

+ Điều 7:  Muốn nắm được lòng người thì phải biếu xén thật nhiều, thu phục những người thân cận trung tín với vua, chỉ ra cái lợi khiến họ lơ là công việc mà gây nên sự suy yếu trong nước.

+ Điều 8:  Hối lộ đò quý báo rồi nhân đó cùng mưu tính công việc. Mưu có lợi thì họ phải tin, gọi là trung thân (đã thân lại thêm thân), thân nhiều thì ta có thể dùng. Ở trong nước mà lòng hướng ngoại thì nước sẽ đại bại.

+ Điều 9:  Tôn cho họ một danh vị mà không hại đến bản thân họ. Biểu dương thế lực cho họ tin tưởng mà sinh lòng tôn kính. Trước hết làm cho họ được vinh quang, vờ coi họ như thánh thần thì có thể lấy được nước.

+ Điều 10:  Hạ mình cho họ tin để biết rõ tình hình, tuỳ theo ý họ mà ứng biến, như cùng chung sống với nhau, lúc đã được lòng họ thì từ từ mà thu phục dân chúng, chờ khi thời cơ đến là lúc Trời diệt họ.

+ Điều 11:  Dùng đạo để che lấp. Từ quan đến dân không ai là không thích giàu sang phú quý, ghét sự chết chóc và tội lỗi. Ta tỏ ra cao quý rồi lén đem báo vật thu phục hào kiệt. Bên trong chất chứa nhiều mà ngoài thì ra vẻ thiếu thốn. Ngầm kết nạp tu sĩ để tính kế bàn mưu, thu dụng dũng sĩ để nâng cao uy thế. Giàu sang sung túc thì vây cánh càng đông, đồ đảng càng nhiều. Đấy là bưng bít. Có nước mà bị bưng bít thì làm sao gọi là có nước?

+ Điều 12:  Nuôi dưỡng loạn thần để mê hoặc vua, hiến nhạc dâm, gái đẹp để quyến rũ vua, nhường chó tốt ngựa hay để giải khuây, cho quyền thế lớn để dụ dỗ. Khi đã kiểm soát được trên thì cùng thiên hạ mưu đồ việc lớn.

Đầy đủ mười hai điều này thì việc binh sẽ thành. Đấy là trên xem trời, dưới xem đất, điều kiện xuất hiện thì có thể đánh chiếm”.

Thiên thứ 4:  THUẬN KHẢI

    Văn Vương hỏi Thái Công: “Làm thế nào để trị thiên hạ”.

Thái Công đáp:   “Lượng phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới chứa được thiên hạ.

Tín phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới giữ được thiên hạ.

Quyền phải bao trùm thiên hạ rồi sau mới không mất thiên hạ.

Làm mà không nghi thì vận trời không thể rồi, thời thế không thể thay đổi.

Sáu điều này có đầy đủ thì mới cai trị được thiên hạ.

Cho nên có lợi cho thiên hạ thì thiên hạ chào đón, có hại cho thiên hạ thì thiên hạ chối từ.

Cho thiên hạ sống thì thiên hạ ghi ân. Giết hại thiên hạ thì thiên hạ làm giặc.

Soi thấu thiên hạ thì thiên hạ cảm thông. Đưa thiên hạ đến chổ cùng cực thì thiên hạ thì thiên hạ oán thù.

Làm cho thiên hạ yên thì thiên hạ tin cậy. Làm cho thiên hạ nguy thì thiên hạ hại mình.

Thiên hạ không phải của một người, nhưng người có “ĐẠO” thì nắm được cả thiên hạ”.

Thiên thứ 5: TAM NGHI

        Võ Vương hỏi Thái Công: “Trẫm muốn lập nên nghiệp lớn, nhưng có ba điều nghi ngại: sợ sức mình không thể đánh nước mạnh, không li gián được người thân, không phân chia được dân chúng. Vậy phải làm thế nào?”

Thái Công đáp: “Phải mưu tính cẩn thận và dùng nhiều tiền của.

Muốn đánh nước mạnh, phải dưỡng họ cho mạnh, giúp học khuếch trương. Mạnh quá phải gãy, trương quá phải khuyết.

Dùng nước mạnh đánh nước mạnh. Dùng người thân li gián người thân.

Dùng dân chúng phân chia dân chúng.

Phàm đạo dùng mưu, quý ở điểm chu đáo. Tùy sự mà địch, lấy lợi mà nhử thì họ sẽ sinh lòng tranh chấp.

Muốn chia rẽ nội bộ họ thì tùy theo sở thích của họ mà làm cho người họ yêu quý, cho điều họ muốn,vạch rõ điều lợi, rồi nhân đó mà làm họ chia rẽ nhau. Họ thấy lợi thì vui, nhưng đừng cho họ thỏa mãn. Khi gây được hiềm nghi thì dừng lại.

Về phép tấn công, trước phải che mắt địch rồi mới đánh vào chỗ mạnh. Diệt điểm lớn của địch, tránh làm hại cho dân.

Dùng sắc quyến họ mê, dùng lợi nhử họ ăn, dùng hương vị quyến rũ họ, dùng ca nhạc giúp vui. Đã xa người thân ắt phải xa dân.

Đừng cho họ biết mưu kế, cũng đừng để họ biết ý định của mình, ngầm giúp dân để thu phục nhân tâm thì có thể thành công.

Ban ân cho dân thì đừng tiếc của. Dân như trâu, ngựa, phải chăm nom nuôi nấng, nghe và thương mến họ.

Lấy lòng mở mang trí tuệ, dùng trí tìm của, lấy của thu dân, dùng dân đón người hiền.

Đón được người hiền thì làm vua thiên hạ”.

(Trích từ VŨ KINH THẤT THƯ trong THẬP NHỊ BINH THƯ).

(Phần chia sẽ tiếp theo: LONG THAO (tuyển tướng) BỘ BINH PHÁP LỤC THAO của Khương Tử Nha).

 

Sưu tầm:  Phan Thành Hiếu

 

 

BINH PHÁP LỤC THAO: VĂN THAO – KHƯƠNG TỬ NHA

     Lục Thao  hay Lược Thao (六韬) hay Thái công lục thao (太公六韬), Thái công binh pháp (太公兵法) là một tác phẩm binh pháp đưa ra những lý luận có hệ thống về mưu lược dùng binh trong chiến tranh, tương truyền do Khương Tử Nha đầu đời nhà Chu sáng tác. Tuy nhiên hiện nay đa số ý kiến cho rằng Lục Thao chỉ là do người đời Chiến Quốc ghi chép lại những tư tưởng của Khương Tử Nha mà làm thành.

Phiên bản Lục Thao cổ nhất được tìm thấy là trong bộ “Thẻ tre Ngân Tước sơn” do các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật được năm 1972.

Năm 1935 Trung Hoa học nghệ xã đã dựa theo bản in thời Tống để cho xuất bản lại bộ VŨ KNH THẤT THƯ trong đó có Lục Thao.

Cấu trúc  Lục Thao hiện nay gồm có 6 bộ:

Văn thao (文韬): dụng nhân – trị quốc

Võ thao (武韬): dụng binh

Long thao (龙韬): tuyển tướng

Hổ thao (虎韬): quân hình – khí tài.

Báo thao (豹韬): Chiến thuật.

Khuyển thao (犬韬): Luyện sĩ

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ: KHƯƠNG TỬ NHA

Khương Tử Nha (Khương Thượng - Lã Vọng)

Khương Tử Nha (Khương Thượng – Lã Vọng)

     Khương Tử Nha (姜仔呀), tên thật Khương Thượng (姜尚), tự là Tử Nha (子牙)và còn có tên khác là Lã Vọng, là khai quốc công thần nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên và là vua khai lập nước Tề tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc

Khương Tử Nha tuổi già thường đi câu cá ở sông Vị, tình cờ được Cơ Xương (Văn Vương – vị vua đầu tiên của nhà Chu) ngưỡng mộ tài năng sau cuộc gặp gỡ trong một chiến đi săn và đón về cung, tôn làm thầy. Khương Thượng giúp Cơ Xương chấn chỉnh nội trị và xây dựng lực lượng nước Chu để mưu đánh đổ nhà Thương tàn bạo mất lòng dân.

Khương Tử Nha tiếp tục phò Cơ Phát ( Vũ Vương – 1226 Trước Công Nguyên) đánh bại Trụ Vương (nhà Thương) và được phong làm vua Tề (Tề Thái Công) ở đất Doanh Châu

Tôi xin chia sẽ quyển VĂN THAO (文韬 ) giản lược trong bộ LỤC THAO:

VĂN  THAODỤNG NHÂN – TRỊ QUỐC

   THIÊN THỨ 1:  VĂN SƯ

Văn Vương sắp đi săn.

Sử Biên gieo quẻ bói rằng: “Đại Vương săn ở đất Vị Dương thì sẽ được việc lớn. Không phải được rồng, lân, cọp, giấu mà là điềm được bậc công hầu Trời cho xuống giúp đại vương để lập sự nghiệp, hưng thịnh như thời Tam Vương vậy”.

Văn Vương nói: “Điềm này tốt đến thế ư?”

Sử Biên tâu: “Xưa Thái tổ của thần là Sử Trù chiêm quẻ cho vua Vũ gặp Cao Dao cũng được điềm này”.

Văn Vương bèn nghỉ ngơi ăn chay ba ngày rồi xa giá đền miền Vị Dương, chợt thấy Thái Công đang ngồi dưới túp liều tranh câu cá.

Văn Vương đến úy lạo và hỏi: “Người thích câu cá lắm ư?”

Thái Công đáp: “Thần nghe nói quân tử thích thỏa chí của mình, tiền nhân thích được việc của mình. Nay thần ngồi câu ở đây cũng giống như vậy, chứ không hẳn là vui thích”.

Văn Vương hỏi: “Sao gọi là giống như thế?”

Thái Công đáp: “Câu cá có ba điều cân nhắc:

– Tùy quyền mà ban bổng lộc.

–  Tùy quyền mà khiến người chết.

– Tùy quyền mà định tước quan.”

Câu cá để đạt được nguyện vọng của mình thì ý nghĩa sâu sắc có thể “làm nên việc lớn”.

Văn Vương nói: “Xin cho nghe về ý nghĩa này.”

Thái Công đáp: “Nguồn sâu nên nước chảy, nước chảy là cái Lí sinh ra cá. Rễ sâu nên cây lớn, cây lớn là cái Lí sinh ra quả. Quân tử cùng chí hướng nên hợp nhau, hợp nhau là cái Lí sinh ra sự việc.

Đối đáp bằng ngôn ngữ là cái bề ngoài của tính cách, còn câu nói chính là lẽ tận cùng của sự việc. Nay thần nói chí tình không hề kiêng nể, Đại vương có lấy làm trái ý chăng?”

Văn Vương nói: “Người có lòng nhân ái mới chịu nghe điều can gián, không ghét lời nói chí tình. Vậy những lời nói ấy là chi?”

Thái Công đáp: “Dây bé mồi nhỏ thì cá nhỏ ăn. Dây vừa mồi thơm thì cá hạng trung ăn. Cá ăn mồi nên phải mắc câu, người hưởng lộc nên phải theo vua.

Vậy câu cá bằng mồi thì cá sẽ bị bắt, giữ người bằng bổng lộc thì người sẽ làm hết mình, chiếm nước bằng nhà thì nước sẽ bị chiếm, chiếm thiên hạ bằng nước thì thiên hạ sẽ đi theo.

Ôi, miên man, dằng dặc, cảnh hợp ấy ắt phải tan rã. Tối tăm mờ mịt sẽ phải rời xa ánh sáng. Huyền diệu thay!

Cái đức của thánh nhân có thể chinh phục được thiên hạ, há chẳng đủ cho mình vui sao? Những điều lo nghĩ của thánh nhân là tùy theo địa vị của mỗi người mà thu phục họ.”

Văn Vương hỏi: “Thiên hạ không phải là của một người, thiên hạ là của thiên hạ. Chung quyền lợi với thiên hạ thì được thiên hạ, chiếm quyền lợi của thiên hạ thì mất thiên hạ.

Trời có thời, đất có của, cùng hưởng với người là “nhân”. “Nhân” ở đâu thì thiên hạ theo về đấy.

Tha cha cho người, giái cái khó của người cứu người lúc hoạn nạn, giúp người khi khốn đốn là đức. Đức ở đâu, thiên hạ theo về đấy.

Cùng lo, cùng vui, cùng thương, cùng ghét với mọi người là nghĩa. Nghĩa ở đâu thiên hạ theo về đấy.

Con người vốn tham sống sợ chết, thích đức và lợi, làm cho con người được sống được lợi là đạo. Đạo ở đâu, thiên hạ theo về đấy.

Văn Vương bái tạ và nói: “Thật là đúng hay, làm sao ta dám cãi mệnh trời”.

Bèn mời ông cùng ngự xe trở về, phong Thái Công làm Quốc sư.

THIÊN THỨ 2: DOANH HƯ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Thiên hạ mênh mông sao có lúc đầy lúc vơi, khi yên khi loạn? Vì vua hiền, ngu không giống nhau, hay vì thiên thời biến hóa tự nhiên sinh ra vậy?”

Thái Công đáp: “Vua ngu thì nước nguy dân loạn, vua hiền thì dân trị nước yên. Nên họa phúc là ở vua, chứ không phải ở thiên thời”.

Văn Vương nói: “Xin nghe về bậc hiền quân thưở trước”.

Thái Công đáp: “ Xưa vua Nghiêu trị vì thiên hạ, thời đó gọi người là bậc hiên quân (vua hiền)”

Văn Vương hỏi: “Chính trị thời đó ra sao?”

Thái Công đáp: “ Khi vua Nghiêu trị vì thiên hạ, không trang sức vàng bạc châu báu, không mặc đồ gấm vóc xa hoa, không nhìn vật lạ kỳ, không quí đồ tốt đẹp, không nghe nhạc phóng đãng, không trang hoàng cung viện, không chạm trổ kèo cột, không cắt cỏ trong vườn.

Dùng áo bông mặc khi trời rét, lấy áo vải để che thân, lấy gạo xấu làm cơm, lấy rau hoắc làm canh.

Không bày chuyện bắt dân sưu dịch để thiệt hại mùa màng, dân chúng. Dốc hết tâm trí vào công việc giáo hóa nhân dân.

Quan nào trung chính thi hành pháp luật thì nâng cao ngôi vị, liêm khiết thương dân thì cho bổng lộc nhiều. Ai nhân từ hiếu đễ thì kính yêu, có công trồng trọt thì khích lệ, đạo đức hiền thục thì treo biển nêu danh nơi cổng làng.

Giữ lòng công bình chính trực, dùng pháp luật ngăn cấm điều gian dối. Người mình ghét mà có công thì vẫn thưởng, người mình yêu mà có tội vẫn phạt.

Nuôi dưỡng những người già yếu, góa bụa đơn côi, giúp đỡ các gia đình tai ương chết choc.

Lễ vật dân dâng thì lấy rất nhẹ, thuế má sưu dịch thì cần rất ít nên muôn dân giàu có vui vẻ, không có cảnh đói rét điêu linh. Trăm họ thờ vua như mặt trời, mặt trăng, thương vua như cha mẹ vậy.

Văn Vương nói: “Vĩ đại thay! Cái đức của bậc hiền vương”.

THIÊN THỨ 3: QUỐC VỤ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Xin cho nghe về việc lớn để trị nước”

Thái Công đáp: “Chỉ cần thương dân”.

Văn Vương hỏi: “Thương dân như thế nào?”

Thái Công đáp: “Làm lợi mà đừng hại, giúp nên mà đừng phá. Để sống mà đừng giết, ban cho đừng chiếm đoạt. Để vui đừng gây khổ, khiến họ mừng mà không giận”.

Văn Vương nói: “Xin giải thích lý do”

Thái Công đáp: “Dân không mất việc là lợi, trồng trọt không lỡ màu là nên. Giảm bớt hình phạt là sống, thu thuế nhẹ là cho. Ít xây cất đền đài là vui, quan lại thanh liêm không sách nhiễu dân là mừng.

Dân bị mất việc là hại, trồng trọt lỡ mùa là hư. Không tội mà phạt là giết, thu thế nặng là đoạt. Xây nhiều đền đài khiến dân mỏi mệt là khổ. Quan lại tham ô sách nhiễu dân lành là giận.

Nên người trị nước chăm sóc dân như cha mẹ thương con, như anh thương em, thấy dân đói rét thì lo, thấy dân khổ nhọc thì buồn, thưởng phạt như chính mình phải chịu, thu thuế như chính mình phải đóng. Đấy là đạo thương dân”.

 THIÊN THỨ 4: ĐẠI LỄ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Lễ nghi của đạo vua tôi như thế nào?”

Thái Công đáp: “Trên phải soi xét, dưới phải thâm trầm, soi xét mà không xa dân, thâm trầm mà không giấu giếm. Trên phải chu toàn, dưới phải yên định. Chu toàn là trời, yên định là đất. Có trời có đất thì thành đại lễ”.

Văn Vương hỏi: “Làm chủ như thế nào?”

Thái Công đáp: “Khoan thai mà điềm tĩnh, ôn hòa nhưng thẳng thắn. Định trước mọi việc, cho mà không tranh, khiêm nhường bình dị, lấy sự công bằng mà xử thế”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải nghe như thế nào?”

Thái Công đáp: “Đừng nghe xằng mà hứa, đừng thấy trái mà chống. Hứa sẽ không giữ được, chống sẽ gặp bế tắc. Núi cao trông lên không thấy được ngọn, vực sâu nhìn xuống không lường được đáy. Cái đức của bậc thánh minh là công chính,trầm tĩnh vô cùng”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải sáng suốt như thế nào?”

Thái Công đáp: “Khoan thai mà điềm tĩnh, ôn hòa nhưng thẳng thắn. Định trước mọi việc, cho mà không tranh, khiêm nhường bình dị, lấy sự công bằng mà xử thế”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải nghe như thế nào?”

Thái Công đáp: “Đừng nghe xằng mà hứa, đừng thấy trái mà chống. Hứa sẽ không giữ được, chống sẽ gặp bế tắc. Núi cao trông lên không thấy được ngon, vực sâu nhìn xuống không lường được đáy. Cái đức của bậc thánh minh là công chính, trầm tĩnh vô cùng”.

Văn Vương hỏi: “Chủ phải sáng cuốt như thế nào?”

Thái Công đáp: “Mắt quý ở chổ sáng, tai quý ở chổ rõ, lòng quý ở chổ biết. Lấy mắt của thiên hạ mà xem thì không có gì là không nhìn thấy. Lấy tai của thiên hạ mà nghe, thì không có gì là không nghe thấy. Lấy lòng của thiên hạ mà nghĩ thì không có gì là không biết. Họp dân lại mà làm thì sáng suốt, không gì có thể che lấp được.

 THIÊN THỨ 5: MINH TRUYỀN.

Văn Vương nằm trên giường bệnh, cho mời Thái Công Vọng và Thái Tử Phát đến bênh mình và nói: “ Than ôi! Trời sắp bỏ ta. Xã tắc nhà Châu sẽ thuộc về con. Nay ta muốn quốc sư nói về đạo cả để mình truyền cho con cháu về sau”.

Thái công nói: “ Đâị vương muốn hỏi điều chi?”

Văn Vương nói: “Xin nghe về đạo của tiên thánh do đâu mà ngưng trệ, do đâu mà hưng khởi”.

Thái Công đáp: “ Thấy người lành mà khinh, thời cơ đến mà nghi, biết sự trái mà làm, là ba điều khiến cho đạo phải ngưng.

Còn nhu mà tĩnh, cung mà kính, mạnh mà mềm, nhịn mà cứng, là bốn điều khiến cho đạo được hưng khởi.

Nên danh nghĩa thắng dục vọng thì thịnh, dục vọng thắng nhân nghĩa thì mất, kính thắng khinh thì tốt, khinh thắng kính thì bị diệt.”

THIÊN THỨ 6: LỤC THỦ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Vua là chủ của dân, thế mà cũng có khi mất là vì sao?”

Thái Công đáp: “Vì không thận trọng trong việc giao phó, làm vua có sáu điều phải giữ và ba điều quý”.

Văn Vương hỏi: “Sáu điều phải giữ là gì?”

Thái Công đáp: “Một là nhân, hai là nghĩa, ba là trung, bốn là tín, năm là dũng, sáu là mưu. Đấy là sáu điều phải giữ.”

Văn Vương hỏi:”Làm sao chọn được người có sáu điều này?”

Thái Công đáp:”Giàu có mà không phạm pháp, được quý trọng mà không kêu căng, giao việc mà không thay lòng, sử dụng mà không phải đề phòng, lâm nguy mà không sợ hãi, xử lí công việc mà không lúng túng.

Giàu sang mà không phạm pháp là nhân, cao quý mà không kêu căng là nghĩa, được giao phó mà không đổi lòng là trung, được dùng mà không đề phòng là tín, lâm nguy mà không sợ hãi là dũng, xử lí công việc mà không lúng túng là mưu.

Làm vua không có ba điều quý thì mất quyền uy.”

Văn Vương nói:”Xin hỏi về ba điều quý ấy”.

Thái Công đáp:”Đại nông, đại công, đại thương là ba điều quý.

Nhà nông canh tác trong làng thì lúa gạo đủ ăn. Người thợ hành nghề trong làng thì dụng cụ đủ dùng. Thương gia buôn bán trong làng thì hàng hoá đủ tiêu dùng. Ba điều quý này đặt yên ở mỗi nơi thì dân không lo nghĩ, không loạn trong làng, không loạn trong họ, quan không giàu hơn vua, đô thị không to hơn nước.

Sáu điều giữ được lâu dài thì vua mạnh. Ba điều quý được vuông tròn thì nước yên.”

THIÊN THỨ 7: THỦ THỔ

Văn Vương hỏi Thái Công: “Việc giữ đất đai như thế nào?”

Thái Công đáp:”Không xa người thân, không khinh người lành, an ủi kẻ giúp việc cho mình, chế ngự lân bang ở bốn mặt.

Không mượn người nhiếp chính. Mượn người nhiếp chính sẽ mất quyền hành. Không đào hoang mà đắp gò. Không bỏ gốc mà chừa ngọn.

Mặt trời lên đỉnh đầu thì đất phải nắng, cầm dao phải cắt, cầm rìu phải chặt. Đứng bóng mà không nắng thì trái thời. Cầm dao mà không cắt thì bỏ lỡ dịp bén. Cầm rìu mà không chặt thì giặc sẽ đến nơi.

Nước chảy lâu ngày sẽ thành sông ngòi. Một đớm lửa nhỏ không dập sẽ bốc lên cao. Hai nhánh cây không phạt thì sau phải dùng đến búa to.

Nên làm vua phải lo việc giàu thịnh. Không giàu thì không có gì để làm việc nhân. Không thịnh thì không lấy gì để kết tình thân thiện. Xa người thân thì hại. Mất dan lành thì hỏng.

Không mượn nhân tài, vũ khí của người. Mượn nhân tài và vũ khí của người thì sẽ bị hại, không giũ tròn quyền cai trị của mình.”

Văn Vương hỏi: “ Thế nào là nhân nghĩa?”

Thái Công đáp: “ Kính mến dân lành, kết hợp người thân. Kính mến dân lành thì hoà thuận. Kết hợp người thân thì vui vẻ. Đấy là đầu mối của nhân nghĩa.

Đừng để người khác cướp uy vua, dựa vào sự sáng suốt, thuận với lẽ thường. Người theo thì lấy đức mà dùng, kẻ nghịch thì lấy thế mà diệt.

Không đa nghi thì thiên hạ mới hoà phục.”

THIÊN THỨ 8: THỦ QUỐC

Văn Vương hỏi Thái Công: “Việc giữ nước như thế nào?”

Thái Công đáp: “Xin đại vương sống thanh tịnh rồi thần sẽ nói về lẽ bất dịch của trời đất, sự sinh biến của bốn mùa, đạo của bậc thánh nhân và cơ tình của dân gian”.

Vua bèn ăn chay, thanh tịnh bảy ngày, hướng về hướng Bắc lạy hai lạy rồi hỏi.

Thái Công nói: “Trời sinh ra bốn mùa, đất sinh vạn vật, trong thiên hạ có dân, bậc thánh nhân phải trông nom dẫn dắt.

Nên mùa xuân là mùa sinh nở, vạn vật tốt tươi. Mùa hạ là mùa tăng trưởng, vạn vật lớn mạnh. Mùa thu là mùa ngưng tụ, vạn vật đầy đủ. Mùa đông là mùa ẩn tàng, vạn vật yên tĩnh.

Đầy đủ thì ẩn tàng, ẩn tàng rồi lại phát ra không biết đâu là đầu, không biết đâu là đuôi. Thánh nhân so sánh để tìm ra lẽ bất dịch của trời đất.

Nên phải dùng âm mà phát, dùng dương mà hội. Khởi sướng trước trong thiên hạ rồi mới làm, làm khác với lẽ thường để hoà hợp. Không tiến mà tranh, không lui mà nhường. Giữ được như thế thì nước nhà có thể vinh quang như trời đất”.

THIÊN THỨ 9: THƯỢNG HIỀN

Văn Vương hỏi Thái Công: “Làm vua phải nâng cái gì? Hạ cái gì? Lấy cái gì? Bỏ cái gì, cấm cái gì, ngăn cái gì?”.

Thái Công đáp: “Làm vua phải nâng người hiền, hạ kẻ dữ, lấy sự thành tín, bỏ điều gian xảo, cấm chuyện bạo tàn, ngăn việc xa hoa. Nên làm vua có sáu điều hư và bảy điều hại”.

Văn vương hỏi: “Xin nghe về lẽ ấy”.

Thái Công đáp: “Sáu điều hư là:

1. Bề tôi cất lâu đài thủy tọa to lớn, đàn hát vui chơi phương hại đến mức độ của vua.

2. Dân không lo trồng trọt, vui thú chơi bời, phạm điều luật cấm, không nghe quan dạy, phương hại đến phong hóa của vua.

3.  Bề tôi cấu bè kết đảng, che lấp người hền trí, ngăn trở sự sáng suốt của chú, phương hại đến quyền hành của vua.

4. Kẻ sĩ có ý chống đối, nhờ tiết tháo thanh cao mà có uy thế, ngoài thì kết giao với chư hầu, không tôn trọng chúa, phương hại đến uy danh của vua.

5.  Bề tôi khinh rẻ tước ngôi, làm điều xấu xa gây khó khăn cho thượng cấp, phương hại đến công lao của bậc cung thần.

6. Những tông phái mạnh chiếm đoạt quyền hành, áp bức người nghèo yếu, phương hại đến nghề nghiệp của dân.

Bảy điều hại là:

1.  Những kẻ không trí lược quyền mưu mà được trọng thưởng tước cao nên hùng hổ coi thường, cậy vào sự rủi may. Vua phải cẩn thận, không nên cho làm tướng.

2. Những kẻ có tiếng mà không có tài, ra vào dị nghị, phô bày điều tốt che giấu việc hay, khéo lui khéo tiến. Vua phải cẩn thận không nên bàn mưu.

3. Những kẻ hình dáng ra vẻ chất phát, ăn mặc giản gị, đối đáp như không cầu danh, nói năng có vẻ không cầu lợi, là người giả dối. Vua phải cẩn thận không nên gần gũi.

4. Những kẻ đai mũ khác người, mặc đồ kì dị, hay nghe biện bác, bàn luận cao xa, ở nơi vắng vẻ, cho mình là tốt, chê bai thế tục, là người gian xảo. Vua phải cẩn thận, không nên sủng ái.

5.  Những kẻ dèm pha, nịnh hót để cầu quan tước, tham lam vô độ, coi thường cái chết, thấy lợi thì làm, không nghĩ đại sự, đặt điều hư thực, nói trước mặt vua. Vua phải cẩn thận không nên tin dùng.

6. Những kẻ hành nghề chạm trổ đồ gang sắt, tuy khéo léo đẹp đẽ nhưng có hại cho việc nhà nông. Vua phải cấm đoán.

7.  Những kẻ có thuật dị kì giả dối, đồng bóng tà đạo, nói điều không tốt, mê hoặc dân lành. Vua phải ngăn cấm.

Cho nên, dân không cố gắng thì không phải là dân của ta. Kẻ sĩ không thành tín thì không phải là kẻ sĩ của ta. Tướng quốc mà không biết làm cho nước giàu dân mạnh, điều hòa âm dương để làm yên lòng vua, sửa sai quần thần, dùng người tài danh, khiến cho muôn dân vui vẻ, thì không phải là tướng quốc của ta.

Đạo làm vua như đầu rồng, ngựa trên cao để nhìn xa, quan sát kỹ để nghe rõ, chỉ rõ lộ trình như trời cao không thể đến, như vực sâu không thể đo.

Cho nên điều đáng giận mà không giận thì gian thần lộng hành, đáng giết mà không giết thì giặc lớn nổi lên, quân đội mà không tăng cường thì nước địch sẽ mạnh hơn”.

Văn Vương nói: “Thật là hay lắm”.

THIÊN THỨ 10: CỬ HIỀN

Văn Vương hỏi Thái Công: “Vua lo cử người hiền mà không nên việc gì cả, khiến đời càng thêm loạn đến nỗi bị nguy vong là vì sao?”

Thái Công đáp: “Cử người hiền mà không dùng thì chỉ có tiếng là cử hiền mà không thực sự dùng hiền”.

Văn vương hỏi: “Lỗi đó tại ai?”

Thái Công đáp: “Lỗi đó là vì vua chỉ thích dùng người theo lời khen ở đời, nên không được người hiền chân chính”.

Văn Vương hỏi: “Tại sao vậy?”

Thái Công đáp: “ Vua thấy người đời khen thì cho là người hiền, thấy người đời chê thì cho là không hiền. Nên nhiều người phe đảng ủng hộ thì có thể tiến thân, người ít phê đảng ủng hộ thì phải đưa về. Do đó mà bọn gian tà liên kết để che giấu người hiền.

Do đó trung thần vô tội mà bị chết, gian thần nhờ hư danh mà được tước vị, nên đời càng loạn, thì nước không tránh khỏi cảnh nguy vong”.

Văn Vương hỏi: “Cử người hiền như thế nào?”

Thái Công đáp: “Phân định chức vụ tướng quân và tướng quốc rồi chọn người hiền ra làm quan bằng cách thi tuyển danh tài, tài phải xứng với danh, danh phải xứng với tài thì mới đúng là cử người hiền.”

THIÊN THỨ 11: THƯỞNG PHẠT

Văn Vương hỏi Thái Công: “Thưởng cốt để khen, phạt cốt để ngăn. Nay trẫm muốn thưởng một người để khuyên trăm người, phạt một người để răn dân chúng thì phải làm như thế nào?”

Thái Công đáp: “Thưởng quý ở chữ tín, phạt quý ở chữ đúng. Thưởng cho đúng công, phạt cho đúng tội, để cho mọi người nghe thấy, thì những người không nghe thấy không khỏi không thầm phục.

Lòng thành còn thấu đến trời đất, thông đến thần linh, huống hồ là đối với con người”.

THIÊN THỨ 12: BINH ĐẠO

Vũ Vương hỏi Thái Công: “Đạo dùng binh như thế nào?”

Thái Công đáp: “Phạm đạo dùng binh không gì hơn một. Nắm vững được một, thì có thể từ đó tung hoành.

Một lấy đạo làm gốc, lấy thân biến hóa làm ngọn, tùy thời cơ mà sử dụng, tùy thời thế mà thể hiện, do vua mà hình thành. Nên bậc thánh vương gọi việc binh là việc hệ trọng bất đắt dĩ mới dùng đến.

 

Tôi xin tiếp tục chia sẽ các Bộ còn lại trong Lục Thao ở phần đăng tiếp theo.

Sưu tầm: Kỹ sư Phan Thành Hiếu.

 

BINH PHÁP TÔN VŨ – TÔN TỬ (BỘ VŨ KINH THẤT THƯ)

“ Thời  nay, binh pháp không chỉ còn mang một ý nghĩa thuần túy quân sự nữa. Binh pháp đã lặng lẽ hòa vào đời sống thành một nghệ thuật đối nhân xử thế, nghệ thuật sống, nghệ thuật của người lãnh đạo và của của người thừa hành. Vì thế, sẽ rất không thừa nếu không nói là rất bổ ích khi suy nghĩ và nghiên cứu lại những tinh hoa của binh pháp cổ đại. Như thế mới gọi là “phát huy vốn cổ”. Người làm tướng, làm lãnh đạo đọc binh pháp để hiểu thêm về phép trị quốc, trị nhân thưở trước, hiểu thêm về “đạo làm tướng”. Người thừa hành đọc để hiểu về bổn phận và trách nhiệm cũng như cách tự  rèn luyện và phấn đấu vươn lên”  (trích Thập Nhị Binh Thư).

Tôi không phải quân nhân phục vụ trong Quân đội, cũng không phải là nhà nghiên cứu quân sự nhưng từ nhỏ tôi đã được đọc những truyện cổ nghiên về sử sách, binh pháp, kinh dịch diễn giải khoa học, thấy cũng có những nét hay riêng  của nó và trí tuệ của người xưa. Tôi xin chia sẽ từng phần trong bộ “Vũ Kinh Thất Thư” của người Trung Quốc và các Bộ binh pháp của người Việt chúng ta từ xa xưa trong “Thập Nhị binh thư” để bạn đọc có thể tìm hiểu.

–  Vũ Kinh Thất Thư:

+ Lục ThaoKhương Tử Nha

+ Tam LượcKhương Tử Nha.

+ Tư Mã Binh PhápTư Mã  Điền Nhương Tư.

+ Binh  Pháp Tôn Tử: Tôn Vũ.

+ Binh Pháp Ngô Tử: Ngô Khởi.

+ Uất Liễu TửUất Liễu.

+ Lý Vệ Công vấn đốiLý Tĩnh.

–  Tố ThưHoàng Thạch Công.

–  Binh pháp Khổng Minh:   Gia Cát Lượng.

–  Binh thư yếu lượcTrần Quốc Tuấn.

–  Binh thư yếu lược (tu chỉnh)Trần Quốc Tuấn.

–  Hổ trướng khu cơĐào Duy Từ.

Trong mỗi bộ binh pháp, tôi sẽ sưu tầm sơ lược về tác giả và ghi lại những ý chính cốt trong bộ đó theo cách trình bày từng tự phổ thông cho dễ hiểu.

TÔN VŨ (VÀI NÉT SƠ LƯỢC)

–  Tôn Vũ  (孙武) tên chữ Trưởng Khanh, người Lạc An nước Tề (nay là Huệ Dân – Sơn Đông – Trung  Quốc), ở cuối thời Xuân Thu, năm sinh năm mất đều không xác định được, nhờ cuốn binh thư của mình mà được tôn là Tử” (thầy), lại bởi Tôn Vũ hoạt động chủ yếu ở nước Ngô, nên được gọi là Ngô Tôn Tử để phân biệt với Tôn Tẫn (Tề Tôn Tử là người nước Tề ở thời Chiến Quốc).

Tôn Vũ (孙武)

Tôn Vũ (孙武)

Tôn Vũ kết thành mối quan hệ gắn bó với Ngũ Tử Tư là trọng thần của nước Ngô, cùng phò tá vua Hạp Lư (phụ thân vua Ngô Phù Sai – người bị Câu Tiễn đánh bại sau này).

Tôn Vũ dâng 13 thiên binh pháp lên Ngô vương là Hạp Lư, được Ngô vương rất tán thưởng rồi phong làm quân sư. Tôn Vũ sau đó cùng với Ngũ Tử Tư trợ giúp Ngô vương cải cách chính sự, tăng cường quốc lực. Giới nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc khi đã nghiên cứu, đối chiếu, tổng hợp, so sánh từ các sử liệu đã đưa ra kết luận: Trong sự nghiệp làm tướng của mình, Tôn Vũ trực tiếp chỉ huy năm trận đánh và chính năm trận chiến “để đời” này đã góp phần đưa tên tuổi, uy danh và tài thao lược quân sự của ông lừng lẫy khắp thiên hạ, lưu danh sử sách.

– Sau khi lập được công lao, Tôn Vũ không muốn làm quan, cố tình về núi làm dân thường, mai danh ẩn tích, cuối cùng không ai biết cuộc đời của ông kết thúc như thế nào, vẫn là một bí ẩn.

BINH PHÁP TÔN TỬ (BỘ VŨ KINH THẤT THƯ)

1. THIÊN THỨ 1:  KẾ SÁCH.

   Tôn Tử viết: Chiến tranh là đại sự của quốc gia, quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của nhà nước, không thể không khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ. Cho nên, phải dựa vào  năm mặt sau đây mà phân tích, nghiên cứu, so sánh chiến tranh:

– Một là:  Đạo: là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng sức. Có như vậy, trong chiến tranh mới có thể bảo nhân dân mà vì vua mà chết, vì vua mà sống, không sợ hiểm nguy.

– Hai là:  Thiên: là thiên thời, nói về ngày đêm, trời râm trời nắng, trời lạnh trời nóng, tức tình trạng về khí hậu trời tiết.

– Ba là:   Địa: là địa lợi, nói về đường sá xa gần, địa thế hiểm yếu hay bằng phẳng, khu vực tác chiến rộng hẹp, địa hình phải chăng có lợi cho tiến công, phòng thủ, tiến thối.

– Bốn là:  Tướng: là tướng soái, tức nói về tài trí, uy tín, lòng nhân ái, lòng can đảm, sự uy nghiêm của người tướng.

– Năm là:  Pháp: tức là pháp chế, nói về tình trạng tổ chức, biên chế, sự quy định về hiệu lệnh chỉ huy, sự phân chia chức quyền của tướng tá, sự cung ứng vật tư cho quân đội và chế độ quản lý…

Tình huống về năm mặt nói trên, người tướng soái không thể không biết. Chỉ khi nào hiểu rõ và nắm chặt được những tình huống đó thì mới có thể giành được sự thắng lợi. Không thật sự hiểu rõ và nắm chắc được thì không thể đắc thắng. Cho nên từ bảy mặt sau mà tính toán, so sánh những điều kiện đôi bên giữa địch và ta để tìm hiểu tình thế thắng bại trong chiến tranh. Tức là phải xem xét:

– Vua bên nào có nền chính trị được lòng dân hơn?

– Tướng soái bên nào có tài năng hơn?

– Thiên thời – địa lợi bên nào tốt hơn?

– Pháp lệnh bên nào được quán triệt hơn?

– Thực lực quân đội bên nào mạnh hơn?

– Binh sĩ bên nào được huấn luyện thành thục hơn?

– Thưởng phạt bên nào nghiêm minh hơn?

Căn cứ vào những điều đó, ta có thể tính toán mà biết trước được ai thắng ai thua.

Nguyên tác: “Tướng thinh ngã kế, dụng chi tất thắng, lưu chi. Tướng bất thinh ngã kế, dung chi tất bại, khứ chi.” (Nếu chịu nghe theo mưu kế của ta, để cho ta chỉ huy tác chiến thì chiến tranh có thể thắng lợi, ta ở lại. Nếu không chịu nghe theo mưu kế của ta, cho dù có dùng ta để chỉ huy tác chiến, chiến tranh tất nhiên bị thất bại, ta sẽ rời đi.)

Nếu kế sách có lợi và được chấp thuận, còn phải tìm cách tạo ra tình thế có lợi để làm điều kiện phụ trợ bên ngoài cho việc tiến hành chiến tranh. Thế tức là căn cứ vào tình huống phải chăng có lợi để mà hành động tương ứng.

Nguyên tác: “ Binh giả, quỷ đạo giả.” (Dùng binh đánh giặc là hành động dối trá.)

Thông thường:

– Có thể tấn công thì giả như không thể tấn công.

– Muốn đánh như giả không muốn đánh.

– Muốn hành động ở gần nhưng giả như muốn hành động ở xa, muốn hành động ở xa nhưng lại giả như muốn hành động ở gần.

– Lấy lợi dụ kẻ tham, chiến thắng kẻ loạn, phòng bị kẻ có thế lực, tránh kẻ thù mạnh, khiêu khích kẻ hay giận giữ.

– Địch khinh thường thì làm cho chúng thêm kiêu căng.

– Địch nhàn hạ thì làm cho chúng vất vả.

– Địch đoàn kết thì làm cho chúng ly tán.

Nguyên tác: “ Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý.” (Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới).

Tất cả những điều nói trên đều là sự khôn khéo để thủ thắng của nhà quân sự nhưng lại không thể quy định trước một cách máy móc. Phàm trước khi khai chiến, đoán được thắng là do tính toán đầy đủ. Trước khi khai chiến mà đoán không thắng là do tính toán không chu đáo. Tính nhiều hơn tính ít huống chi không tính toán gì. Quan sát đầy đủ các mặt đó, ai thắng ai bại có thể đoán trước được.

2. THIÊN THỨ 2: TÁC CHIẾN.

     Tôn Tử viết: Nguyên tắc chung khi dụng binh tác chiến là khi phải huy động chiến xa nghìn chiếc, quân đông mười vạn, vận lương đi xa nghìn dặm thì tình huống đó, chi phí ở tiền phương và hậu phương, chi phí đãi khách khứa sứ thần, bảo dưỡng và bổ sung tiêu phí nghìn vàng mới có thể cho mười vạn quân xuất chinh được. Dùng một đạo quân khổng lồ như thế để tác chiến thì đòi hỏi phải thắng nhanh. Nếu kéo dài thời gian, quân đội sẽ mệt mỏi, nhuệ khí sẽ suy giảm, tấn công thành trì sẽ hao hết sức chiến đấu, quân đội tác chiến ở ngoài lâu có thể làm nền tài chính của quốc gia gặp khó khăn. Nếu quân đội mệt mỏi, nhuệ khí suy giảm thì lúc đó cho dù là người tài giỏi sáng suốt đến đâu cũng không thể cứu vãn tình thế được. Dùng binh trong đánh giặc chỉ nghe nói trong tốc thắng vẫn còn thiếu sót vụng về chứ không bao giờ có việc kéo dài mà lợi cho quốc gia cả.

Cho nên: người không hiểu biết chỗ hại khi dụng binh thì không thể hiểu được chỗ lợi trong dụng binh. Người giỏi dụng binh, lính mãn ngũ không gọi lại, lương thực không vận tải quá 3 lần, quân nhu lấy tại nước mình, lương thực giải quyết tại nước địch. Được vậy thì lương thảo cấp dưỡng cho quân đội sẽ được thỏa mãn. Sở dĩ quốc gia phải nghèo vì dụng binh là do vận tải lương thực đi quá xa. Vận tải lương thực xa, bá tánh sẽ nghèo. Chung quanh nơi quân đội tập kết, vật giá sẽ cao vọt bất thường. Vật giá cao vọt sẽ làm cho tiền tài của bá tính khô kiệt. Tiền tài khô kiệt tất phải gấp rút thu thêm thuế. Sức mạnh tiêu hao hết, tiền tài khô kiệt, trong nước khắp đồng quê nhà nhà đều trống rỗng. Bá tính thiền tài mười phần hao bảy, quốc gia thì xe hỏng ngựa mỏi mười phần hết sáu. Cho nên tướng soái giỏi thì:

– Lấy lương thực ở nước địch:

+  Ăn một chung gạo ở nước địch bằng hai mươi chung gạo ở nước nhà.

+  Dùng một thạch cỏ ở nước địch bằng  hai mươi thạch cỏ ở nước nhà.

– Muốn quân hăng hái giết địch phải làm quân biết hận địch.

– Cướp của địch mà thưởng cho quân nhà.

– Đánh bằng xe, cướp được hơn mười cái thì thưởng cho người đầu tiên cướp được.

– Bỏ cờ xe địch, cắm cờ quân nhà mà dùng chung với xe nhà.

– Đãi tù binh tử tế thì thắng địch mà làm quân nhà thêm mạnh.

Thế nên dụng binh cốt thắng không cốt kéo dài. Tướng soái giỏi dụng binh là thần hộ mệnh của dân, là người giữ sự an nguy cho quốc gia.

3. THIÊN THỨ 3: MƯU CÔNG.

Tôn Tử viết:

– Đại phàm phép dụng binh làm cho cả nước địch khuất phục trọn vẹn là thượng sách, đánh nó kém hơn.

– Làm cho toàn quân địch chịu khuất phục là thượng sách, đánh nó kém hơn.

– Làm nguyên lữ quân địch khuất phục là thượng sách, đánh nó kém hơn.

– Làm nguyên một tốt địch khuất phục là thượng sách, đánh nó kém hơn.

– Làm nguyên một ngũ địch khuất phục là thượng sách, đánh nó kém hơn.

Thế nên bách chiến bách thắng cũng chưa phải là cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt trong sự sáng suốt.

Vì vậy, thượng sách trong việc dùng binh là lấy mưu lược để thắng địch, kế đó là thắng địch bằng ngoại giao, kế nữa là dùng binh thắng địch, hạ sách là tấn công thành trì. Đánh thành trì là biện pháp bất đắc dĩ, chế tạo chiến xa, vũ khí phải mất ba tháng mới hoàn thành, chuẩn bị binh mã lại mất ba tháng nữa. Tướng sốt ruột xua quân đánh thành trì thương vong ba phần mất một mà vẫn chưa hạ được. Đó là cái hại của việc đánh thành trì.

Do đó, người giỏi dụng binh thắng địch mà không phải giao chiến, đoạt thành mà không cần tấn công, phá quốc không cần đánh lâu, nhất định phải dùng mưu lược toàn thắng mà thủ thắng trong thiên hạ, quân không mỏi mệt mà vẫn giành thắng lợi hoàn toàn.

Phép dụng binh:

– Gấp mười lần địch thì bao vây.

– Gấp năm lần địch thì tấn công.

– Gấp đôi lần địch thì chia ra mà đánh.

– Ngang bằng địch thì phải đánh khéo.

– Kém hơn địch thì phải rút, tránh giao tranh với địch.

– Binh yếu mà đánh thẳng tất bị bắt làm tù binh.

Tướng soái là trợ thủ của quốc gia, trợ thủ tốt thì nước cường thịnh.

Vua có thể gây bất lợi cho việc quân trong ba trường hợp sau đây:

– Không biết quân không thể tiến mà bắt tiến, không biết quân không thể thoái mà bắt thoái.

– Không biết việc quân mà can dự vào khiến tướng sĩ hoang man khó hiểu.

– Không biết mưu kế dụng binh mà can dự vào khiến tướng sĩ băn khoăn nghi ngờ. Quân băn khoăn nghi ngờ thì các nước chư hầu thừa cơ tấn công. Đó là làm rồi mình khiến địch thắng.

Cho nên, năm điều có thể thắng:

– Biết có khả năng đánh hay không có khả năng đánh, có thể thắng.

– Biết dựa vào binh lực nhiều ít mà đánh, có thể thắng.

– Quân tướng đồng lòng, có thể thắng.

– Lấy quân có chuẩn bị đánh quân không chuẩn bị, có thể thắng.

– Tướng giỏi mà vua không can thiệp vào, có thể thắng.

Nguyên tác: “Tri bỉ tri kỷ giả, bách chiến bất đãi. Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ. Bất tri bỉ bất tri kỷ, tất chiến tất đãi.” (Biết địch biết ta, trăm trận không bại. Biết ta mà không biết địch, trận thắng trận bại. Không biết địch không biết ta, trận nào cũng bại).

4. THIÊN THỨ 4:  HÌNH.

Tôn Tử viết:  Trước kia người giỏi dụng binh đánh giặc:

– Trước tiên phải không để bại, sau mới đánh bại kẻ địch.

– Không để bại là do mình, giành chiến thắng là tại địch.

– Làm cho kẻ địch không thắng được mình nhưng không chắc làm kẻ địch bị ta đánh thắng.

       Nguyên tác: “Thắng khả tri, i nhi bất khả vi”. (Thắng lợi có thể dự kiến nhưng không nhất thiết đòi hỏi được).  Dự đoán chiến thắng mà không hơn nhiều người thì chưa gọi là giỏi trong những người giỏi, thắng một trận mà thiên hạ gọi giỏi thì chưa gọi là giỏi trong những người giỏi, nhấc một cọng lông thì không kể là khỏe, nhìn thấy nhật nguyệt không kể là mắt tinh, nghe được sấm sét không kể là tai thính…

Nguyên tác: “Thiện thủ giả, tàng ư cửu địa chi hạ, thiện công giả, động ư cửu thiên chi thượng”. (Người giỏi thủ ém quân tại các loại địa hình, người giỏi công phát huy mọi thế mạnh, bảo toàn lực lượng mà vẫn toàn thắng). Không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa.

Người giỏi dụng binh:

– Thường đánh bại kẻ địch dễ thắng nên việc giành được chiến thắng ấy không phải là trí dũng. Chiến thắng của họ là không có gì phải nghi ngờ vì nó dựa trên cơ sở tất thắng kẻ địch đã lâm vào thế thất bại.

–  Bao giờ cũng đặt mình vào thế thất bại (*) mà cũng không bỏ qua cơ hội nào để thắng địch.

+ Đội quân chiến thắng bao giờ cũng tạo điều kiện để thắng sau đó mới giao tranh.

+ Đội quân chiến bại thường giao tranh trước sau đó mới tìm chiến thắng bằng sự cầu may.

– Có thể từ các mặt tu sửa cái lẽ không thể thắng để nắm được quyền quyết định sự thắng bại.

Phép dụng binh là:  ĐỘ à LƯỢNG à SỐ à XỨNG à THẮNG. Tính thế sinh độ, độ sinh lượng, lượng sinh số, số sinh xứng, xứng sinh thắng.

Thắng binh dùng “dật” đánh “thù”. Bại binh dùng “thù” chống “dật”.

Nguyên tác: “Thắng giả chi chiến dân dã, nhược quyết tích thủy ư thiên nhẫn chi khê giả, hình dã”. (Người chiến thắng là người có quân lực hùng mạnh, chỉ huy tác chiến dùng binh như tháo nước đổ từ trên trời xuống vậy, cái này gọi là HÌNH của binh lực).  (Dật = 1/24 lạng; Lạng = 1/24 thù).

5. THIÊN THỨ 5:  THẾ.

       Tôn Tử viết:  Phàm việc điều khiển quân, bất kể nhiều hay ít là việc tổ chức biên chế quân đội, chỉ huy quân nhiều hay ít là vấn đề hiệu lệnh. Thống lĩnh toàn quân gặp địch tấn công mà không bị bại trận, ấy là nhờ vào thuật biến hóa kỳ ảo khi dùng binh là chính. Dùng binh công địch được thế như lấy đá chọi trứng, ấy là nhờ biết vận dụng chính xác tránh thực chọi hư.

Phàm việc tác chiến, dùng chính binh đối địch, kỳ binh thủ thắng. Tướng giỏi dùng binh sẽ biết biến hóa tác chiến như trời đất không bao giờ cùng đường, sông biển không bao giờ cạn nước, như mặt trăng mặt trời lặn rồi lại mọc, như bốn mùa thay đổi qua rồi lại đến. Âm nhạc không quá 5 âm thanh(*) nhưng biến hóa khôn lường nghe sao cho hết được. Sắc màu cũng chỉ có 5 màu(*) biến hóa nhìn sao cho tận. Vị bất quá cũng chỉ có 5 vị (*) nhưng biến hóa nếm sao cho đủ. Chiến thuật cũng có KỲCHÍNH nhưng biến hóa của kỳchính là vô cùng vô tận. Kỳ – chính chuyển hóa lẫn nhau như vòng tròn không có khởi điểm cũng không có kết thúc, ai có thể biết được?

Nước lã chảy xiết cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ. Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là nhờ thế tiết nhanh như chớp nhoáng. Người chỉ huy giỏi là người biết tạo nên thế hiểm hay tiết chớp nhoáng. Thế hiểm như cung đã giương hết mức, tiết chớp nhoáng như lấy nỏ phóng lên, nhanh vô cùng.

Trong khi tác chiến, người ngựa rối loạn mà không để đội hình rối loạn. Hỗn loạn mù mịt mà vẫn đâu ra đấy, duy trì được thế tiết thì không bị bại.

Ta có tổ chức chặt chẽ thì khiến địch hỗn loạn. Ta có lòng dũng cảm thì khiến địch khiếp sợ. Ta có binh lực lớn thì khiến địch suy yếu. Chặt chẽ hay hỗn loạn là do ở tổ chức, dũng cảm hay khiếp sợ là do ưu thế tạo nên, lớn mạnh hay suy yếu là do thực lực đối sách thể hiện ra. Tướng giỏi là biết cách điều khiển quân địch, ngụy trang để dụ địch khiến địch di động theo ý mình, dùng lợi nhỏ dụ kẻ địch, địch ắt đến để chiếm. Dùng cách đó mà khiến quân địch đến nạp mạng.

Người giỏi tác chiến:

– Biết tạo ra tình thế có lợi chứ không trách thuộc cấp, biết chọn lựa và sử dụng nhân tài để tạo nên lợi thế.

– Tạo ra thế như lăn gỗ đá, gỗ đá ở chổ bằng thì nằm im, ở chổ nghiêng dốc thì dịch chuyển, vuông thì dừng mà tròn thì lăn.

Bởi vậy, người giỏi chỉ huy tác chiến cũng như lăn hòn đá tròn từ trên núi cao vạn trượng xuống chân núi. Thế tạo ra chính là như vậy.

6. THIÊN THỨ 6: HƯ – THỰC.

     Tôn Tử viết:  Phàm đến chiến địa trước đợi địch là chiếm được thế chủ động an nhàn, đến chiến địa sau ứng chiến với địch là lâm vào thế mệt mỏi. Vì thế, người chỉ huy tác chiến giỏi là người có thể điều khiển quân địch chứ không thể theo sự điều khiển của quân địch.

  – Khiến quân địch đến nơi ta làm chủ trước là kết quả của việc dùng binh lợi nhỏ nhữ địch.

– Khiến địch không thể đến nơi nó muốn, ấy là do ta ngăn cản được nó.

– Địch nghỉ ngơi, ta phải làm cho nó mệt mỏi.

– Địch đầy đủ lương thảo, ta phải làm cho chúng đói khát.

– Địch đóng quân yên ổn, ta phải làm cho chúng di chuyển: đó là vì nơi ta tấn công nên địch phải đến ứng cứu.

–  Quân ta đến những nơi không bị địch ngăn trở, ta đánh mà chắc thắng là do ta tấn công vào nơi địch không cách gì phòng thủ. Ta phòng thủ vững chắc do ta biết trước nơi sẽ bị địch tấn công.

– Ta muốn đánh thì dù địch có lũy cao hào sâu cũng phải ứng chiến với ta vì ta đánh vào nơi địch buộc phải ứng cứu.

– Ta không muốn đánh thì vạch đất mà phòng thủ, địch cũng không thể đến đánh ta vì ta làm cho chúng phải đổi hướng tấn công.

–  Ta khiến địch để lộ thực lực mà ta thì vô hình, ta có thể tập trung binh lực còn địch thì phân tán lực lượng.

    Người giỏi tiến công là người có thể làm cho địch không biết nơi mà phòng thủ. Người giỏi phòng thủ là người có thể làm cho địch không biết phải tấn công vào nơi nào. Vì thế ta có thể nắm vận mạng của quân địch trong tay.

– Ta tiến công mà địch cản không nổi vì ta như tiến vào chỗ không người.

– Ta thoái lui mà địch không đuổi theo vì ta hành động nhanh lẹ, địch không đuổi kịp.

– Ta tập trung binh lực ở một nơi mà địch phân tán lực lượng ở mười chốn tức là ta dùng mười đánh một. Nhờ vậy, quân ta đông, quân địch ít, lợi thế hẳn cho ta. Dùng nhiều đánh ít, tương quan lực lượng ta với địch rõ ràng là mình thắng.

– Nơi ta tiến công, địch chẳng thể nào biết, không thể biết ắt địch phải bố trí phòng thủ nhiều nơi. Phòng thủ nhiều nơi thì quân số bị phân bố, ắt nơi ta cần tiến công sẽ có ít quân địch.  Binh lực địch mỏng là vì phòng bị khắp nơi. Binh lực ta dồi dào là nhờ buộc địch phải phòng bị khắp chổ.

– Địch giữ được “mặt tiền” thì “mặt sau” mỏng yếu, giữ đuợc bên trái thì bên phải yếu mỏng.

Biết trước chiến địa và thời gian giao tranh thì dù xa ngàn dặm cũng có thể giao phong với địch.

– Không biết sẽ đánh ở đâu và vào lúc nào thì cánh trái và cánh phải không thể tiếp ứng lẫn nhau, mặt tiền và mặt hậu không thể ứng cứu lẫn nhau.

– Vượt người về số quân đâu có ích cho ta trong việc thắng bại, thắng lợi là do ta tạo thành, quân địch tuy đông ta có thể làm cho chúng không thể đấu với ta được.

Bày mưu lập kế, phân tích kế hoạch tác chiến của quân địch, khiêu khích địch để nắm tình hình và phương cách hành quân của địch. Căn cứ vào sự thay đổi tình hình của quân địch mà vận dụng linh hoạt chiến thuật. Chiến thiến lần sau không gặp lại phương thức đã dùng trong lần trước mà phải thích ứng với tình hình mới, biến hóa vô cùng vô hình.

– Trinh sát xem chỗ nào có lợi, chỗ nào bất lợi.

– Đánh thử xem binh lực của địch mạnh hay yếu thực hư thế nào.

– Ngụy trang thật khéo khiến địch không tìm ra tung tích thì dù gián điệp có vào sâu trong đội hình cũng không biết rõ được quân ta, kẻ địch khôn ngoan mấy cũng không biết cách đối phó với quân ta.

– Người ngoài chỉ biết ta dùng phương kế thắng địch chứ không biết ta đã vận dụng phương kế đó như thế nào.

Thắng lợi trên chiến trường là do ta biết tránh chỗ cứng, chỗ thực của quân địch mà đánh vào chỗ mềm, chỗ hư của địch.

– Dụng binh cũng như dòng nước chảy: từ chổ cao đổ xuống chổ thấp.

– Dụng binh tác chiến không có tình thế cố định, không có phương thức nhất định.

– Dựa vào biến đổi của địch mà chiến thắng thì gọi là dụng binh như thần.

7. THIÊN THỨ 7:  QUÂN TRANH.

      Tôn Tử viết:  Phàm dụng binh chi pháp, tướng soái nhận lệnh vua, trưng tập dân chúng, tổ chức quân đội, sau mới bày trận đối địch. Trong quá trình đó, khó nhất là quân tranh nghĩa là giành lấy lợi thế, hiểu được phương pháp biến cong thành thẳng.

– Phải biến đường cong thành đường thẳng: tuy đi đường vòng nhưng lấy cái lợi nhỏ dụ địch thì mới có thể xuất phát sau mà tới trước yếu địa cần tranh.

– Phải biến bất lợi thành có lợi.

Quân tranh vừa có lợi, vừa có nguy hiểm:

– Đem toàn quân có trang bị nặng nề đi tranh thì không thể đạt được dự định, nếu bỏ trang bị nặng thì trang bị nặng sẽ tổn thất. Quân đội không có trang bị nặng ắt sẽ thua, không có lương thảo ắt chết, không có vật tư ắt khó sống.

– Cuốn giáp tiến gấp, ngày đêm không nghỉ để đi trăm dặm tranh lợi thì tướng lĩnh ba quân có thể bị bắt, lính khỏe tới trước, yếu tới sau, cuối cùng chỉ có một phần mười binh lực đến trước.

– Đi năm mươi dặm tranh lợi, tướng lĩnh tiền quân sẽ bị chặn, chỉ có một nữa binh lực tới trước.

– Đi ba mươi dặm tranh lợi, chỉ có hai phần ba binh lực tới trước.

Dụng binh đánh trận phải dựa vào biến hóa gian trá mới mong thành công.

– Chưa biết ý đồ chiến lược của các chư hầu thì không thể tính việc kết giao.

– Chưa thông địa hình sông núi, đầm hồ thì không thể hành quân.

– Không dùng người dẫn đường không thể chiếm địa lợi.

– Phải căn cứ vào chỗ có lợi hay không mà hành động, tùy cơ ứng biến, dựa vào sự tập trung hay phân tán binh lực mà thay đổi chiến thuật.

– Quân đội hành động thần tốc thì nhanh như gió cuốn.

– Quân đội hành động chậm rãi thì lừng thừng như rừng rậm

– Khi tấn công thì phải như lửa cháy.

– Khi phòng thủ thì như núi đá.

– Khi ẩn mình thì như bóng tối.

– Khi xung phong thì như sấm sét.

– Chiếm được làng xã phải phân binh đoạt lấy, mở rộng lãnh thổ, phải phân binh trấn giữ.

Người giỏi dụng binh:

– Nắm chắc sĩ khí quân đội: Sĩ khí của quân đội lúc mới giao chiến thì hăng hái, sau một thời gian dần dần suy giảm, tránh nhuệ khí hăng hái của quân địch cho đến khi nhuệ khí đó của chúng bị tiêu tan giảm sút rồi mới đánh, làm dao động quyết tâm của tướng địch.

– Nắm chắc tâm lý quân đội: lấy nghiêm chỉnh của quân ta đối phó với sự hỗn loạn của quân địch, lấy sự bình tĩnh của ta đối phó với sự hoang mang của quân địch.

– Nắm chắc sức chiến đấu quân đội: lấy gần chờ xa, lấy nhàn chờ mệt, lấy no chờ đói.

– Nắm vững biến hóa chuyển động: không đi chặn đánh quân địch đang có hàng ngũ chỉnh tề, không đánh kẻ địch có thế trận và lực lượng hùng mạnh.

Nguyên tắc dụng binh:

– Địch chiếm núi cao thì không đánh lên.

– Địch dựa vào gò đống thì không nên đánh chính diện.

– Địch vờ thua chạy thì không nên đuổi theo.

– Địch tinh nhuệ thì chưa nên đánh vội.

– Địch cho quân nhử mồi thì mặc kệ chúng.

– Địch rút về nước thì không nên chặn đường.

– Bao vây địch nên chừa một lối thoát cho chúng.

– Địch cùng khốn thì không nên quá bức bách chúng.

8. THIÊN THỨ 8:  CỬU BIẾN.

         Tôn Tử viết:  Phàm dụng binh chi pháp, tướng soái nhận lệnh vua, tập hợp quân đội quân nhu (giáo, khí, lương…) khi xuất chinh cần chú ý:

– Ở “phỉ địa”: đất xấu, thì không dựng trại.

– Ở “cù địa”: đất có đường thông suốt, phải kết giao với nước láng giềng.

– Ở “tuyệt địa”: không được nấn ná.

– Ở “vi địa”: đất bị vây, thì phải tính kế.

– Ở “tử địa”: phải liều chết quyết chiến.

– Có những đường không nên đi.

– Có những loại địch không nên đánh.

– Có những thành không nên công.

– Có những vùng không nên giành.

– Có những lệnh vua không nên nghe.

Tướng lĩnh thông minh suy tính tất phải cân nhắc hai phương diện lợi hại:

– Gặp tình hình bất lợi, phải tìm cho được điều lợi mới thành đại sự.

– Gặp tình hình thuận lợi, phải cố thấy rõ những yếu tố bất lợi mới kịp thời giải trừ được tai biến.

– Muốn khuất phục chư hầu, phải đánh vào chỗ nguy hại của họ.

– Muốn điều khiển chư hầu, phải buộc họ làm những việc họ không thể làm được.

– Muốn ép họ vào thế bị động, phải dùng lợi mà dẫn dụ họ.

Nguyên tắc dùng binh:

– Không chờ địch tấn công ta, mà phải tập trung vào việc sắp sẵn kế sách đối phó.

– Không đợi địch tấn công ta, mà phải trông vào thành lũy của ta vững chắc, địch không thể hạ được.

Năm điểm nguy hiểm của người làm tướng:

– Liều chết khinh suất có thể bị giết.

– Tham sống sợ chết có thể bị bắt.

– Nóng giận hồ đồ có thể mắc mưu.

– Liêm khiết tự trọng thì không chịu nhục nhã.

– Thương dân có thể lo buồn bất an.

9. THIÊN THỨ 9:  HÀNH QUÂN.

     Tôn Tử viết:  Khi hành quân và dựng trại ở những dạng địa hình khác nhau, khi phán đoán tình hình quân địch, phải chú ý:

– Ở vùng núi, phải dựa vào vùng sơn cốc có nước và cỏ, hạ trại ở chỗ cao, hướng về ánh sáng. Nếu địch chiếm được chỗ cao thì không đánh lên.

– Khi vượt sông, nên hạ trại ở xa bờ. Nếu địch vượt sông đánh ta, ta không nên giao chiến với địch dưới sông, chờ địch sang sông được phân nửa mới đánh thì được lợi. Nếu muốn quyết chiến với địch nên bày trận sát bờ sông. Hạ trại bên bờ sông cũng phải chiếm ở chỗ cao, đón ánh sáng, không được theo hướng ngược dòng sông tấn công địch. Phần thượng lưu mưa lớn tất nước sông sẽ dâng lên, nhất định không được vượt sông, phải chờ khi nước rút.

– Nếu gặp vùng đầm lầy nước mặn, phải ở gần nơi có nước và cỏ, lưng dựa vào lùm cây.

– Nếu gặp vùng đồng bằng, phải chiếm nơi rộng rãi, bên phải có gò cao, phía trước mặt thấp, phía sau lưng cao.

– Hạ trại nên ở nơi cao ráo tránh ẩm thấp, ở nơi sáng tránh chổ tối tăm, ở nơi gần cỏ và nước có đường vận chuyển quân nhu tiện lợi, tướng sĩ không bị nhiễm bệnh, đó là đảm bảo cho chiến thắng.

– Hành quân ở vùng nhiều gò đống, đê điều, tất phải chiếm phần cao ráo sáng sủa, chủ yếu dựa vào phía bên phải.  Cái lợi của cách dùng binh này là được lợi thế địa hình hổ trợ.

– Hành quân qua những nơi mà hai bên sườn có nhiều chỗ hiểm trở, ao hồ đầm lầy, lau sậy um tùm, cây cối rậm rạp tất phải thận trọng dò xét vì đó là những nơi địch dễ có thể mai phục.

– Năm loại địa hình dưới đây, khi hành quân tất phải gấp rút chuyển đi, không nên đến gần, để địch ở gần nơi đó,  ta nên hướng mặt về phía địa hình ấy mà cho địch xoay lưng vào đó:

+ Thiên giản: là khe núi hiểm trở.

+ Thiên tỉnh: là nơi vách cao vây bọc.

+ Thiên lao: là nơi 3 mặt bị vây, vào dễ ra khó.

+ Thiên hãm: là nơi đất thấp lầy lội khó vận động.

+ Thiên khích: là nơi hẻm núi khe hở.

– Cần chú ý:

+ Địch đã đến gần mà vẫn yên tĩnh là chúng đã chiếm được địa hình hiểm yếu thuận lợi.

+  Địch ở xa mà đến khiêu chiến là chúng muốn dẫn dụ ta tiến lên.

+  Địch đóng quân ở nơi bằng phẳng là đã chiếm được địa hình lợi thế.

+  Cây cối rung động là địch đang lặng lẽ tiến gần.

+  Trong cỏ có nhiều chướng ngại vật là địch cố ý bày nghi trận.

+ Chim xao xác bay lên là bên dưới có phục binh, thú kinh hãi bỏ chạy là địch kéo quân đến đánh úp.

+ Bụi bốc cao mà nhọn là chiến xa địch tới, bui bay thấp mà tản rộng là địch kéo bộ binh đến. Bụi bay tản mác là địch chia quân đi kiếm củi. Bụi bay ít mà lúc có lúc không là địch đang dựng trại.

+ Sứ giả nói năng khiêm nhượng mà địch lại tăng cường là đang chuẩn bị tiến công, sử giả nói cứng lại giả tiến lên là địch đang chuẩn bị rút lui, sứ giả đến tặng quà và nói năng mềm mỏng là địch muốn đình chiến.

+ Chiến xa hạng nhẹ chay ra hai bên sườn là địch đang bày thế trận.

+ Địch chưa thua đã vội cầu hòa là đang có âm mưu, địch gấp bày trận là đã định kỳ hạng tấn công, địch nửa tiến nửa lui là đang muốn dụ ta, quân lính chống binh khí làm thế đứng dựa vào là đang đói bụng, quân địch đi lấy nước mà uống trước mới đem về là địch đang khát nước, địch thấy lợi mà không tiến lên tranh đoạt là đang mệt mỏi.

+ Chim chóc đậu trên doanh trại địch là trại đang bỏ trống.

+ Ban đêm (*) địch hốt hoảng gọi nhau là biểu hiện hoảng sợ.

+ Quân lính trong trại nhiễu loạn là tướng địch không có uy nghiêm, cớ xí ngả nghiên là đội ngũ địch đã rối loạn, quan quân dễ nổi nóng là toàn quân đã mệt mỏi, quân lính thì thầm bàn tán là tướng địch không được lòng quân.

+ Dùng cả lương thực cho ngựa ăn, giết ngựa lấy thịt, thu gọn dụng cụ nấu ăn, lính không về trại là địch đã khốn cùng, liều chết phá vòng vây.

+ Liên tiếp khao thưởng quân sĩ là địch không có biện pháp hành động, liên tiếp trừng phạt hạ cấp là quân địch đang quẫn bách.

+ Thoạt đầu hung hãn, sau lại sợ sệt cấp dưới là tướng địch quá dốt, trí lực kém.

+ Địch giận dữ kéo quân bày trận đối diện với quân ta mà lâu lại không tiến không lui thì ta nên cẩn trọng xem xét vì sợ địch đang có mưu kế.

– Đánh trận không cốt lấy quân đông, không nên khinh địch tiến liều mà phải tập trung lực lượng, phán đoán tình hình, tranh thủ sự tín nhiệm và ủng hộ của hạ cấp là được. Kẻ không biết nhìn xa trông rộng lại khinh địch ắt hẳn bị địch bắt.

– Chưa có ân đức đã vội ra uy trừng phạt thì quân sĩ không phục, quân sĩ không phục thì khó có thể sai khiến được. Đã có ân đức với quân sĩ mà không áp dụng kỷ luật quân pháp thì cũng không thể sai khiến được họ.

– Phải mềm mỏng độ lượng để quân sĩ đồng lòng, dùng quân pháp nghiêm minh để quân sĩ nhất nhất tề chỉnh thì mới có thể khiến quân sĩ kinh sợ và phục tùng. Uy lệnh có nghiêm thì quân sĩ mới quen phục tùng, thời bình mà mệnh lệnh được nghiêm chỉnh chấp hành thì đó là tướng đã phục được lòng quân, trên dưới đều hòa thuận hợp nhất.

10. THIÊN THỨ 10:  ĐỊA HÌNH.

     Tôn Tử viết:   Địa hình là điều kiện hỗ trợ cho việc dùng binh. Phán đoán tình hình, giành lấy thắng lợi, khảo sát địa hình lợi hại, tính toán xa gần, đó là phương pháp mà một tướng lĩnh tài giỏi phải nắm vững. Nắm vững phương pháp rồi mới chỉ huy tác chiến thì chắc thắng, không nắm vững phương pháp đã lo chỉ huy tác chiến thì tất bại.

Địa hình gồm có 6 loại:

–  “Thông”:  là nơi ta có thể đi, địch có thể đến. Địa hình này ai chiếm được chỗ cao, đảm bảo đường vận chuyển lương thực thông suốt mà tác chiến thì đắc lợi.

– “Quải”: là nơi tiến đến thì dễ mà lui thì khó. Địa hình này nếu địch không phòng, ta có thể bất ngờ tấn công thì đắc thắng, nếu địch có phòng nhưng ta đem quân đến đánh mà không thắng thì khó có thể rút về, rất bất lợi.

– “Chi”: là nơi ta tiến đến bất lợi, địch tiến đến cũng bất lợi. Địa hình này thì địch dù có đem lợi dụ ta, ta cũng chớ xuất kích, nên giả thua rút đi, dụ địch tiến ra nửa chừng hãy đem quân trở lại công kích thì ta đắc lợi.

– “Ải”: là nơi đất hẹp, ở địa hình này ta nên chiếm trước mà chờ đợi địch đến. Nếu địch chiếm được trước ta và dùng nhiều quân giữ cửa thì ta không nên đánh. Nếu địch không nhiều binh phòng thì ta có thể tiến đánh.

– “Hiểm”: là nơi đất hiểm trở. Ở địa hình này nếu ta chiếm trước địch thì nên đóng quân ở chỗ cao, dễ quan sát để chờ địch tới. Nếu địch chiếm trước thì ta nên lui quân, chớ tiến đánh.

– “Viễn”: là nơi xa rộng. Ở địa hình này tình trạng thế lực đôi bên ngang nhau thì không tiện khiêu chiến, nếu miễn cưỡng đánh thì bất lợi.

Việc binh có 6 tình huống bất lợi:

– “Tẩu”: là địa thế như nhau mà chỉ huy nhu nhược, không quyết đoán.

– “Trì(*): là binh sĩ hăng hái mà chỉ huy nhu nhược, tất nhiên kém sức chiến đấu.

– “Hãm(*):

– “Băng”: là chỉ huy nổi giận mà binh sĩ không phục, gặp phục địch cứ tự ý xuất chiến, chủ tướng lại không hiểu năng lực của binh sĩ, ắt sẽ bại như núi lở.

– “Loạn”: là tướng lĩnh nhu nhược, không uy nghiêm, huấn luyện không có bài bản, quan hệ trên dưới không ra hệ thống gì, bày trận lộn xộn, tự mình làm rối quân của mình.

– “Bắc”: là tướng lĩnh không biết phán đoán chính xác tình hình địch, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, tác chiến lại không có lực lượng mũi nhọn, cầm chắc thất bại.

Sau khi phân tích quy luật:

– Thấy đánh thắng, dù chú bảo không đánh vẫn phải kiên trì đánh.

– Thấy đánh ắt thua, dù chúa bảo nhất định phải đánh cũng có thể không đánh.

– Tiến không cầu danh thắng, lui không sợ phạm lệnh, chỉ cốt bảo vệ lợi ích của nhân dân và quốc gia, tướng lĩnh thế mới thực sự là người quý của đất nước.

Đối với sĩ tốt như con em, họ sẽ cùng ra xông pha vào những nơi hung hiểm. Coi sĩ tốt như con yêu quý, họ sẽ cùng sống chết bên ta.

Hậu đãi quân sĩ mà không sử dụng, nuông chìu quân sĩ mà không giáo huấn, phạm pháp mà không phạt thì họ khác nào những đứa con hư, chẳng thể dẫn đi chinh chiến được.

Chỉ biết quân mình có thể đánh mà không hiểu có thể đánh địch được hay không thì mới có nửa phần thắng.

Biết có thể đánh được địch mà không hiểu quân mình có đánh nổi không cũng chỉ mới có nửa phần thắng.

Biết kẻ địch có thể đánh bại được, biết quân ta có thể đánh nổi mà không hiểu địa hình bất lợi cho việc tác chiến thì thắng lợi cũng mới nắm được một nữa.

Người biết dụng binh thì hành động quyết không mê muội, sử dụng chiến thuật biến hóa khôn lường. Chính vì thế:

– Biết địch biết ta, thắng mà không nguy.

– Nắm vững thiên thời địa lợi sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn.

11. THIÊN THỨ 11:  CỬU ĐỊA.

  Tôn Tử viết:   Trong binh pháp có chín thế đất khác nhau:

Thế đất ly tán: Chư hầu đánh lên đất của mình. –> Không nên đánh đường hoàng.

Thế đất dễ lui (vào cạn): Vào đất người chưa được sâu. –> Chớ dùng binh.

Thế đất khó lui (vào sâu): Đi sâu vào đất nước của người, đã vượt qua nhiều thành ấp của địch. –> Nên cướp đoạt.

Thế đất tranh giành: Ta chiếm được thì lợi cho ta, địch chiếm được thì lợi cho địch. –> Chớ tấn công.

Thế đất giao thông: Ta đi lại dễ dàng, địch cũng đi lại dễ dàng. –>  Chớ đóng binh ngăn đường.

Thế đất ngã tư: Đất tiếp giáp với ba nước chư hầu, ai đến trước thì giao kết được với dân chúng trong thiên hạ. –> Kết giao với các nước chư hầu.

Thế đất khó đi lại: Ở những vùng núi rừng hiểm trở, có nhiều đầm lầy, các đường xá đi lại rất khó khăn. –> Bỏ đi nơi khác.

Thế đất vây bọc: Lối vào chật hẹp, lối ra thì quanh co, binh địch ít có thể đánh được binh ta nhiều. –> Nên dùng mưu.

Thế đất chết kẹt: Đánh gấp thì còn sống, không dám đánh gấp thì phải thua chết. –> Nên liều đánh.

Ngày xưa, kẻ giỏi dụng binh thấy có lợi thì dấy binh, còn nếu không có lợi thì dừng và có thể khiến cho quân địch:

+ Trước sau mất liên lạc.

+ Binh nhiều và ít không thể cậy nhờ nhau.

+ Người sang và kẻ hèn không thể cứu nhau.

+ Người trên và kẻ dưới không thể giúp nhau.

+ Sỹ tốt ly tán mà không thể tập trung được.

+ Binh sỹ tụ hợp mà không thể chỉnh tề.

Nếu quân địch kéo đến đông đảo và chỉnh tề thì ta phải làm thế nào?

– Điều trước tiên là đoạt hết chỗ thiết yếu của chúng, như thế ắt chúng phải nghe theo ta. Việc binh cốt yếu phải mau lẹ, thừa dịp địch không kịp xoay trở, ta đi theo những đường lối mà chúng ta không ngờ tới để đánh vào những chỗ mà chúng không phòng bị.

– Binh giữ vai trò khách ở nước người, tiến sâu thì được chuyên mất, chủ nhân không thể khắc trị nổi.

+ Ta chiếm đoạt những đồng ruộng phì nhiêu để nuôi sống ba quân.

+ Ta bồi dưỡng sĩ tốt, đừng bắt họ làm lụng vất vả để dồn chứa khí lực cho họ.

+ Dùng mưu kế lạ khiến cho kẻ địch không thể lường được.

+ Ta ném binh vào thế không thể tháo lui nên binh ta dẫu chết cũng không trốn chạy thế mà không lẽ chịu chết mà không được gì hết sao? à Bởi thế nên sĩ tốt hết lòng chiến đấu.

+ Binh sĩ bị vây hãm quá mức ắt không còn lo lắng sợ hãi nữa, không có chỗ chạy nên phải vững chí, tiến sâu vào nên không bị trói buộc, cực chẵng đã phải đánh vậy.

Cho nên binh ấy không cần phải căn dặn gì mà vẫn giữ gìn, không cầu mong mà được lòng sĩ tốt, không cần ước thúc mà thương yêu bề trên, không cần nói mà đã tin cậy. Cấm bàn điểm gở, trừ khử nghi ngờ thì binh ấy đến chết cũng không thay lòng.

Binh sĩ không thừa tiền của cải không phải họ ghét tiền ghét của, họ không tiếc tính mạng không phải họ ghét sống lâu. Ngày ra lệnh sĩ tốt kẻ thì ngồi khóc nước mắt chảy ước áo, kẻ thì nằm khóc lệ tràn ướt má. à Cho nên ném binh vào chỗ không chạy được thì họ sẽ dũng cảm như Chuyên Chư ( một thích khách nước Ngô nổi tiếng bậc nhất thời Xuân thu chiến quốc – Trung Quốc).

Binh sĩ biết dùng sẽ giống như con suất thiên (một loại rắn ở Thường Sơn, Trung Quốc: đánh vào đầu thì đuôi quặp lại đâm, đánh vào đuôi thì đâu quay lại cắn, đánh vào mình thì đầu đuôi đều quặp vào giữa). Có thể dùng binh giống con suất thiên không?

     Có thể !  Ví dụ minh họa: Người ở nước Ngô và nước Việt tuy ghét nhau nhưng khi ngồi chung một thuyền để qua sông gặp phải sóng gió thì cùng nhau như tay trái và tay phải. Trói chân ngựa, chôn bánh xe đều chưa đủ tin rằng chúng đứng yên một chổ.

Người giỏi dụng binh:

+ Làm cho mọi người cùng một lúc trở nên bạo dạn như một người.

+ Ba quân cứng hay mềm, mạnh hay yếu đều có thể dùng được cả, đó là nhờ địa thế. Sai sử ba quân giống như dẫn dắt một người thành thử họ cực chẵng đã phải tuân theo vậy.

Khi mưu đồ việc gì thì bậc tướng súy  phải;

+ Lặng lẽ để được sâu kín.

+ Ngay thẳng, chỉnh tề để được trị được yên.

+ Bịt tay, che mắt sĩ tốt khiến họ chẳng biết được ý mình.

+ Đổi công việc thay mưu kế khiến cho sĩ tốt không hiểu được việc mình.

+ Dời chổ ở dẫn binh đi quanh co khiến sĩ tốt không lường được kế mình.

Tướng súy dẫn binh đi lâm trận cũng như:

+ Lên cao rồi vứt thang đi.

+ Dẫn quân đi sâu vào đất chư hầu, tốt thuyền đập nồi để phát động tâm cơ sĩ tốt.

+ Xua một bầy dê: xua qua thì qua, xua lại thì tìm lại, chẳng biết đi đâu.

+ Nắm ba quân ném vào nơi hiểm yếu.

Tướng súy phải xét kỹ cách ứng biến của chín thế đất, điều lợi hại sự co duỗi, lẽ thường của nhân tình.

Phép đem quân giữ vai khách ở nước người:

– Vào sâu: ắt được chuyên nhất.

– Vào cạn: ắt phải ly tán.

– Ra khỏi nước mình, vượt biên giới để đóng quân, đó là đất cách tuyệt

– Giao thông được bốn nước, đó là đất ngã tư.

– Đã vào sâu rồi, đó là đất khó lui.

– Mới vào cạn, đó là đất dễ lui.

– Mặt sau hiểm trở, không lui được, mặt trước đèo ải khó qua, đó là đất vây bọc.

– Không có lối thoát, đó là đất chết kẹt.

==>   Cách ứng biến:

+ Ở đất ly tán: –> Thống nhất ý chí của ba quân.

+ Ở đất dễ lui: –>  Cho ba quân đi liền nhau, đồn chấn giữ liền nhau.

+ Ở đất khó lui: –>  Lo chu cấp đều đặn lương thực cho quân sĩ.

+ Ở đất tranh giành: –> Ta đem quân đánh vào lưng địch.

+ Ở đất giao thông: –>  Giữ gìn cẩn thận.

+ Ở đất ngã tư:  –> Ta củng cố tình giao hảo với các nước chư hầu.

+ Ở đất chết kẹt: –>  Ta cho sĩ tốt biết rằng không thể sống còn.

+ Ở đất vây bọc: –>  Ta cho bít chỗ hở.

+ Ở đất khó đi lại: –> Ta đi qua khỏi cho gấp rút.

==> Tình trạng việc binh phải như sau:

+ Bị vây thì phải chống cự.

+ Cực chẳng đã nên phải đánh.

+ Bị địch bức bách quá nên phải tuân theo lệnh tướng súy.

+ Không biết được mưu kế của chư hầu thì không nên tính trước kết giao.

+ Không biết hình thế núi rừng, đầm lầy hiểm trở thì không thể hành quân.

+ Không dùng kẻ hướng đạo thì không thể lấy địa lợi.

Binh của bậc bá vương:  đánh nước lớn nào thì khiến cho binh của họ không thể tụ hợp lại được, uy hiếp địch đến nỗi các nước khác không giám đến kết giao với địch, cho nên không cần tranh giành việc kết giao với thiên hạ, không cần bồi đắp quyền thế của mình đối với thiên hạ, chỉ tin cậy thực lực riêng của mình để uy hiếp địch quốc nên có thể đánh lây thành của họ.

Chú ý:

– Nên ban thưởng đặc biệt ra ngoài phép ban thưởng.

– Nên ra những lệnh đặc biệt ra ngoài thông lệ thì có thể sử dụng ba quân như sai khiến một người.

– Bày công việc ra để sai khiến mà chớ nói trước cho biết.

– Bày điều lợi để sai khiến mà chớ cho thấy điều hại.

– Ném binh vào đất mất rồi mới còn, để binh bị vây hãm ở đất chết rồi sau mới cho sống.

– Để cho binh thấy sự nguy hại đe dọa rồi sau ta mới làm chủ sự thắng bại được.

Phép dụng binh:

+ Giả vờ theo ý địch, dồn binh đánh vào một hướng, từ ngàn dặm để giết tướng địch, đó gọi là “khéo nên làm nên việc”.

+ Ngày quyết định dấy binh: hãy đóng chặt các nơi quan ải, hủy bỏ phù tiết không thông sứ với địch quốc, trước phải tính toán cẩn thận chốn miếu đường để sắp đặt công việc cho được chu đáo.

+ Thấy địch sơ hở chỗ nào thì vội len vào.

+ Muốn đánh chiếm chỗ thiết yếu nào thì phải giấu kín ý định của ta, phải tùy theo địch tình mà sắp đặt kế hoạch chiến đấu.

+ Lúc mới đầu binh phải như gái tơ, chờ địch hé cửa thì xông vào như thỏ chạy trốn, khiến địch không kịp chống cự.

12. THIÊN THỨ 12: HỎA CÔNG.

       Tôn Tử viết:  Có 5 cách đánh bằng lửa:

– Thứ nhất: Đốt doanh trại để giết người.

–  Thứ hai:  Đốt lương thảo tích trữ.

–  Thứ ba: Đốt xe cộ.

– Thứ tư: Kho lẫm(*).

– Thứ năm: Đốt đội ngũ để làm giặc rối loạn.

Muốn dùng hỏa, phải có nhân duyên. Muốn phóng hỏa phải chờ thời tiết, muốn châm lửa phải chọn ngày.

Thời tiết thuận lợi là ngày mà mặt trăng ở lại trong các sao Cơ, Bích, Dực, Chẩn(*). Đây là những ngày nổi gió.

Khi dùng hỏa công, phải ứng biến tùy theo 5 trường hợp phóng hỏa:

– Lửa cháy ở bên trong thì gấp tiếp ứng ở bên ngoài.

– Lửa cháy rồi nhưng binh địch vẫn yên lặng, hãy chờ xem mà chớ vội đánh.

– Lửa cháy to: Vào được thì vào, không vào được thì thôi.

– Lửa đã cháy được ở ngoài thì không cần nội ứng, lựa dịp thuận lợi mà đánh vào.

– Lửa cháy ở trên luồng gió thì chớ ở dưới luồng gió đánh lên.

– Ban ngày có gió nhiều thì ban đêm không có gió.

– Dùng lửa để trợ giúp vào sự tấn công thì sáng sủa dể thấy. Dùng nước để trợ giúp sự tấn công thì được mạnh thế hơn. Nước có thể dùng để ngăn chặn chứ không thể dùng để chiếm đoạt.

Phép yêu nước, giữ binh được vẹn toàn mà nhà Vua sáng suốt và tướng tài cần phải lo tính và sắp đặt:

– Đánh thắng, giành lấy được mà không tưởng thưởng công lao cho sĩ tốt thì đó là điều nguy hại, như thế chỉ ở lại đất địch tiêu phí tiền một cách vô ích.

– Không thấy lợi thì đừng dấy binh, không nguy khốn thì đừng đánh.

– Nhà Vua không nên vì giận giữ và tướng tài không nên vì oán hờn mà gây chiến. Đã giận có thể mừng trở lại, đã hờn có thể vui trở lại nhưng nước mất rồi thì khó lấy lại và người chết rồi thì không thể sống lại.

– Thấy có ích lợi cho nước nhà thì dấy binh còn không thì thôi.

13. THIÊN THỨ 13: GIÁN ĐIỆP.

      Tôn Tử viết:  Phàm dấy binh mười vạn, đi xa ngàn dặm, tính chung các phí tổn của trăm họ, sự cung phụng của các nhà công… mỗi ngày lên tới ngàn lượng vàng, trong ngoài phải náo động, nhân dân chịu vất vả vì việc phu dịch ở dọc đường, bỏ bê công việc làm ăn lên tới bảy mươi vạn nhà. Kéo dài đến nhiều năm để tranh thắng lợi trong một ngày mà lại không dám ban tước lộc, không dám thưởng trăm lượng vàng để dùng gián điệp đến nổi không biết tình hình quân địch, đó là hạng người hết sức bất nhân: người ấy chẳng đáng làm chủ tướng của mọi người, chẳng đáng làm tôi phò chúa, không thể làm chủ được sự thắng lợi. Cho nên, các bậc vua chúa sáng suốt, tướng tài sở dĩ dấy binh thắng địch, thành công hơn người đó là nhờ biết trước vậy. Biết trước ở đây không phải nhờ quỉ thần mách bảo, không phải nhờ so sánh các việc tương tự mà tìm biết được, phải nhờ người mà biết được tình hình của quân địch.

Dùng gián điệp thì có năm loại:

Nhân gián (hương gián): là nhân lấy người làng bên nước địch để dùng làm gián điệp.

Nội gián: là nhân lấy quan lại của địch để dùng làm gián điệp.

Phản gián: là nhân lấy gián điệp của địch để dùng làm gián điệp cho mình.

Tử gián: là ta phô trương các vật giả giá ngoài, báo cho gián điệp của ta biết để truyền tin cho địch.

Sinh gián: là hạng gián điệp trở về được để báo cáo tình hình.

Khi năm hạng gián điệp ấy cùng khởi sự, không ai biết được các đường lối dò xét hiểm hóc của họ như thế mới là thần bí, đáng gọi là báu vật của vua loài người.

Xét chung trong ba quân:

+ Những người thân thiết với tướng súy thì không ai thân thiết bằng gián điệp.

+ Những kẻ được thưởng thì không ai được thưởng bằng gián điệp.

+ Các việc bí mật thì không việc nào bí mật cho bằng gián điệp.

Khi sử dụng gián điệp phải chú ý:

+ Không phải là bậc thánh trí thì không dùng được gián điệp.

+ Không phải là bậc nhân nghĩa thì không sai khiến được gián điệp.

+ Không tinh vi khéo léo thì không biết được thực tình nhờ gián điệp.

+ Gián điệp của địch chưa do thám ta xong mà ta nghe biết trước rồi thì gián điệp của địch và kẻ cáo giác cho ta biết đều phải bị giết chết.

+ Khi muốn đánh quân nào, đều phải biết rõ người tướng trấn giữ, các người thân tín của người tướng, người tiếp khách, người gác cửa….tên họ của từng người, đều phải kiếm gián điệp của ta tìm tòi mà biết thông tin cho đầy đủ.

+ Tìm cho ra gián điệp mà địch sai tới do thám ta, lấy điều lợi mà dụ dỗ họ, dẫn dắt họ, cho ăn ở …như thế có thể dùng họ làm phản gián cho ta được. Nhờ họ làm phản gián mà ta biết tình hình của nước địch, do đó kiếm được hương gián và nội gián bên nước địch để mà lợi dụng.  Phản gián mà biết địch hình khiến tử gián bày đặt việc dối trá để đến cáo giác với quân địch, đồng thời sai sinh gián đi về đúng kỳ hạn. Vì vậy, phản gián không thể không được hậu đãi. Năm việc gián điệp trên, người sử dụng phải biết đủ.

Ví dụ minh họa: Trung Quốc cổ xưa, khi nhà Ân khởi nghĩa thì Y Doãn bên đất nhà Hạ để dò xét, khi nhà Chu khởi nghĩa thì ông Khương Tử Nha bở bên đất nhà Ân dò xét tình hình. Chỉ bậc vua sáng, tướng tài mới có thể dùng gián điệp để có thành công lớn.

(Xin tiếp tục chia sẽ phần TAM THẬP LỤC KẾLỤC THAO của Khương Tử Nha ở các bài đăng tiếp theo)

Người sưu tầm: Phan Thành Hiếu (https://phanthanhhieu82.wordpress.com)

Trích dẫn: Thập Nhị Binh Thư

 

%d bloggers like this: